Tổng quan luận án

Phẫu thuật nội nhãn ở trẻ nhũ nhi có tiền sử sinh thiếu tháng là một thách thức lớn đối với chuyên ngành Gây mê hồi sức. Trẻ sinh non (dưới 37 tuần tuổi thai) thường mang nhiều di chứng bệnh lý phức tạp như hội chứng suy hô hấp (RDS), loạn sản phế quản phổi hay bệnh phổi mạn tính (BPD/CLD), tăng áp lực động mạch phổi (PH), còn ống động mạch và nguy cơ ngừng thở sau mổ cao. Đặc biệt, bệnh võng mạc trẻ đẻ non (BVMTĐN/ROP) là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở trẻ sinh non (chiếm trên 50% ở trẻ sinh trước 30 tuần tuổi thai và cân nặng dưới 1500g), đòi hỏi can thiệp phẫu thuật sớm để bảo tồn thị lực.

Phương pháp gây mê toàn thân truyền thống sử dụng ống nội khí quản (NKQ) kết hợp thuốc giãn cơ và opioid tiềm ẩn nhiều nguy cơ: tỷ lệ đặt NKQ thành công lần đầu ở trẻ em còn thấp (khoảng 53%), phản xạ giao cảm gây tăng nhịp tim, tăng huyết áp, tăng nhãn áp, cùng với nguy cơ phù nề thanh môn, co thắt thanh phế quản và suy hô hấp kéo dài do tồn dư thuốc giãn cơ. Nhằm khắc phục khoảng trống này, việc ứng dụng thuốc mê bốc hơi sevofluran kết hợp dụng cụ kiểm soát đường thở trên thanh môn là mát thanh quản (MTQ) để trẻ tự thở không dùng thuốc giãn cơ và opioid được xem là hướng tiếp cận phù hợp cho các phẫu thuật nhãn khoa ngắn.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Đình Luyến với đề tài "Nghiên cứu hiệu quả gây mê bằng sevofluran qua mát thanh quản để tự thở trong phẫu thuật nội nhãn ở trẻ nhũ nhi có tiền sử sinh thiếu tháng" (chuyên ngành Gây mê hồi sức, Mã số: 62720121, Trường Đại học Y Hà Nội, năm 2019) được thực hiện nhằm giải quyết 02 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá hiệu quả gây mê hô hấp bằng sevofluran qua mát thanh quản để tự thở trong phẫu thuật nội nhãn ở trẻ nhũ nhi có tiền sử sinh thiếu tháng.
  2. Đánh giá ảnh hưởng lên tuần hoàn và một số tác dụng không mong muốn của phương pháp gây mê này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Trẻ nhũ nhi (≤ 1 tuổi) có chỉ định phẫu thuật nội nhãn. Nhóm nghiên cứu gồm bệnh nhi có tiền sử sinh thiếu tháng phẫu thuật điều trị bệnh võng mạc trẻ đẻ non; nhóm so sánh gồm bệnh nhi sinh đủ tháng phẫu thuật điều trị đục thể thủy tinh hoặc glôcôm bẩm sinh.
  • Địa điểm nghiên cứu: Khoa Gây mê - Hồi sức, Bệnh viện Mắt Trung ương.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 10 năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về gây mê nhi khoa, kiểm soát đường thở và phẫu thuật nhãn khoa:

  • Về sử dụng mát thanh quản ở trẻ em và trẻ sinh non:

    • Mason D.G. (1990) nghiên cứu trên 200 trẻ em cho thấy MTQ số 2 kiểm soát đường thở và thông khí hiệu quả ở trẻ từ 6-30 kg, tỷ lệ chuyển NKQ chỉ 2,5%.
    • Rachel Efrat (1994) ghi nhận tỷ lệ đặt MTQ thành công lần đầu đạt 95,8% ở 120 trẻ phẫu thuật thoát vị bẹn (2,5-46 kg).
    • A. Lönnqvist nghiên cứu trên 7 bệnh nhi BVMTĐN (tuổi sau thụ thai 34-42 tuần, cân nặng 1,3-2,3 kg) có bệnh dị sản phổi, ghi nhận đặt MTQ dễ dàng, tự thở ổn định sau 3-5 phút và không có biến chứng co thắt thanh phế quản.
    • Ferim (2004-2010) thực hiện trên 85 bệnh nhân phẫu thuật BVMTĐN đặt MTQ (tuổi sau thụ thai 38,21 ± 4,39 tuần, trọng lượng 2323 ± 588,6g) chứng minh huyết động ổn định và an toàn trong quá trình gây mê.
    • Trevisanuto D. (2005) áp dụng MTQ làm đường dẫn bơm surfactant điều trị bệnh màng trong ở 8 trẻ sinh non (880-2520g) đạt kết quả thông khí tốt và không có biến chứng.
    • Dramod Venlanka (2013) báo cáo ca bệnh trẻ 40 ngày tuổi, sinh non 28 tuần (cân nặng lúc mổ 1335g) phẫu thuật với MTQ và sevofluran đạt SpO2 99%, huyết động ổn định.
    • Shahin N. Jamil (2009) so sánh MTQ và NKQ ở trẻ em, chỉ ra MTQ có tỷ lệ đặt dễ dàng đạt 94% (so với 54% của NKQ), ít biến đổi huyết động và giảm hẳn các chấn thương đường thở.
    • Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Chừng và Võ Quang Nguyên Phổ (1999) lần đầu tiên báo cáo sử dụng MTQ ở trẻ em; Nguyễn Minh Đăng (2011) nghiên cứu trên 84 bệnh nhi phẫu thuật vùng bẹn sinh dục và mắt, khẳng định tính an toàn và hiệu quả của MTQ trong phẫu thuật ngắn.
  • Vị trí và khoảng trống nghiên cứu: Trước thời điểm luận án thực hiện, các báo cáo tại Việt Nam chủ yếu khảo sát trên trẻ lớn hoặc trẻ đủ tháng. Chưa có công trình can thiệp lâm sàng có đối chứng nào đánh giá toàn diện về gây mê hô hấp bằng sevofluran để tự thở qua MTQ trên nhóm bệnh nhi nhũ nhi có tiền sử sinh thiếu tháng trong phẫu thuật nội nhãn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và sinh lý học

Luận án xây dựng trên nền tảng sinh lý học trẻ em và dược lý học lâm sàng:

  • Đặc điểm hô hấp: Dung tích cặn chức năng (FRC) ở trẻ nhỏ chỉ chiếm 10% tổng dung tích phổi (so với 50% ở người lớn), mức tiêu thụ oxy cao (7 ml/kg/phút, gấp đôi người lớn), sợi cơ hoành loại I chống mệt mỏi chỉ chiếm <10% ở trẻ sinh non (so với 25% ở trẻ đủ tháng và 50% ở người lớn). Do đó, trẻ sinh non dễ bị suy hô hấp, kiệt cơ và tụt oxy máu nhanh chóng khi ngừng thở.
  • Đặc điểm tuần hoàn: Lưu lượng tim ở trẻ nhỏ đạt khoảng 200 ml/kg/phút (người lớn 70 ml/kg/phút) và phụ thuộc chủ yếu vào tần số tim. Thể tích máu chiếm 85-95 ml/kg, hemoglobin bào thai (HbF) chiếm tỷ lệ cao làm tăng ái lực với oxy, đòi hỏi duy trì hematocrit thích hợp để tưới máu mô.
  • Dược lý Sevofluran: Hệ số hòa tan máu/khí thấp (0,6), nồng độ phế nang tối thiểu (MAC) khoảng 2,0. Thuốc không gây kích ứng đường thở, khởi mê nhanh (<2 phút ở nồng độ tới 7-8%), thoát mê nhanh (3-4 phút sau ngừng thuốc), làm giãn cơ trơn phế quản và ít gây ức chế tuần hoàn khi để bệnh nhân tự thở.
  • Dụng cụ kiểm soát đường thở (MTQ): MTQ không xâm lấn qua thanh môn, giúp giảm sức cản đường thở khoảng 50%, duy trì áp lực đường thở thấp, hạn chế phản xạ co thắt thanh phế quản và không làm tăng nhãn áp.
Thông số sinh lý Trẻ sơ sinh / Trẻ sinh non Người trưởng thành
Dung tích cặn chức năng (FRC / TLC) ~ 10% ~ 50%
Mức tiêu thụ oxy ~ 7 ml/kg/phút ~ 3,5 ml/kg/phút
Thời gian dự trữ oxy khi ngừng thở ~ 18 giây ~ 165 giây
Lưu lượng tim ~ 200 ml/kg/phút ~ 70 ml/kg/phút
Tỷ lệ sợi cơ hoành loại I (chống mỏi cơ) < 10% (trẻ non) - 25% (đủ tháng) ~ 50%
Sức cản đường thở 19 - 28 cmH2O/L/giây ~ 2 cmH2O/L/giây
Thể tích máu theo cân nặng 85 - 95 ml/kg ~ 70 ml/kg

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng có so sánh.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Trẻ nhũ nhi (≤ 1 tuổi). Nhóm nghiên cứu gồm trẻ sinh non (<37 tuần) mổ BVMTĐN. Nhóm so sánh gồm trẻ đủ tháng (≥37 tuần) mổ glôcôm hoặc đục thể thủy tinh.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh tim bẩm sinh chưa sửa chữa, bất thường xét nghiệm thường quy, béo phì, đang hoặc có tiền sử nhiễm trùng hô hấp < 2 tuần, chống chỉ định dùng sevofluran hoặc MTQ, gia đình không đồng ý.
  • Tiêu chuẩn đưa ra khỏi nghiên cứu: Đặt MTQ thất bại sau 3 lần thử, phải chuyển sang đặt NKQ, phải thở máy trong mổ (ngừng thở không hồi phục sau hỗ trợ thông khí <1 phút), hoặc gặp biến chứng ngoại khoa.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Tính theo công thức so sánh hai giá trị trung bình dựa trên chỉ số EtCO2 từ các nghiên cứu của Aparna Sinha ($\mu_1 = 41,3 \pm 3,9$) và Lynne ($\mu_2 = 44 \pm 2$). Với mức sai sót loại I $\alpha = 0,01$, lực mẫu $1 - \beta = 0,9$ ($\beta = 0,1$), cỡ mẫu tính toán tối thiểu là $n \ge 44$ bệnh nhân cho mỗi nhóm.
  • Trang thiết bị và phương tiện: Máy gây mê OMEDA CS2 Avance (Datex Ohmeda - GE Healthcare) tích hợp phân tích khí mê, theo dõi VtE, MV, FiO2, Fisev, Etsev, MAC, EtCO2; monitor Nihon Kohden BSM-3562 theo dõi điện tim, SpO2, NIBP; máy khí máu Cobas b 221; MTQ số 1 và 1,5 cùng đồng hồ đo áp lực cuff.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Chương mở đầu phân tích thực trạng bệnh lý nhãn khoa bẩm sinh ở trẻ nhỏ, đặc biệt là bệnh võng mạc trẻ đẻ non. Tác giả nêu bật những hạn chế của phương pháp đặt ống nội khí quản truyền thống và sự cần thiết phải ứng dụng kỹ thuật gây mê hô hấp bằng sevofluran tự thở qua mát thanh quản nhằm đảm bảo trao đổi khí, giữ vững huyết động và hạn chế biến chứng tăng nhãn áp trong phẫu thuật nội nhãn.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tập trung trình bày 4 nội dung cốt lõi:

  1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý trẻ em: Phân tích cấu trúc đường thở (thanh quản cao ở C3-C4, sụn nắp hình chữ U, lưỡi to), cơ chế điều hòa hô hấp, nhu cầu tiêu thụ oxy và đặc điểm hệ tuần hoàn, thân nhiệt, chức năng thận ở trẻ sinh thiếu tháng.
  2. Các bệnh mắt bẩm sinh thường gặp: Trình bày chi tiết bệnh võng mạc trẻ đẻ non từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5 (trong đó giai đoạn 4A, 4B và 5 có chỉ định phẫu thuật đai củng mạc hoặc cắt dịch kính), bệnh glôcôm bẩm sinh nguyên phát và bệnh đục thể thủy tinh bẩm sinh.
  3. Dược lý Sevofluran và hệ thống mê hô hấp: Trình bày các đặc tính lý hóa, chuyển hóa, tác dụng trên các cơ quan và phân tích ưu - nhược điểm của các hệ thống máy thở (Mapleson F, hệ thống Bain, hệ thống vòng kín).
  4. Phương pháp vô cảm trong phẫu thuật nhãn khoa: Đánh giá các phương pháp gây tê tại chỗ (hậu nhãn cầu, cạnh nhãn cầu, dưới bao Tenon, bề mặt) và gây mê toàn thân (so sánh toàn diện giữa NKQ và MTQ; phân loại các thế hệ MTQ như Classic, Proseal, Flexible, I-gel, Fastrach, CTrach).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết về thiết kế can thiệp lâm sàng có so sánh, tiêu chuẩn chọn mẫu và loại trừ, công thức tính cỡ mẫu ($n \ge 44$ mỗi nhóm). Chương 2 quy chuẩn hóa quy trình thực hành:

  • Kỹ thuật khởi mê bằng sevofluran nồng độ tăng dần qua mát mặt.
  • Kỹ thuật đặt MTQ cỡ 1 hoặc 1,5, kiểm soát áp lực bóng chèn (cuff).
  • Duy trì mê để trẻ tự thở bằng sevofluran, theo dõi liên tục các thông số thông khí (VtE, MV, EtCO2, Fisev, Etsev, MAC), chỉ số tuần hoàn (mạch, HATT, HATTr, HATB), lấy mẫu máu gót chân phân tích khí máu (PaCO2, PaO2, pH, BE) và đo nhãn áp.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương kết quả tổng hợp toàn bộ số liệu thu thập được từ hai nhóm nghiên cứu:

  • Đặc điểm chung của bệnh nhi: Phân bố tuổi, giới tính, trọng lượng lúc sinh và lúc phẫu thuật, các yếu tố nguy cơ tiền sử sinh non và các chỉ số huyết học ban đầu.
  • Hiệu quả gây mê và kiểm soát đường thở: Tỷ lệ đặt MTQ thành công, số lần đặt, áp lực cuff, tương quan giữa áp lực cuff và thể tích khí lưu thông thở ra (VtE), nồng độ thuốc mê thở vào/thở ra (Fisev, Etsev, MAC), tần số thở, thông khí phút (MV).
  • Thông số trao đổi khí và khí máu: Diễn biến SpO2, FiO2, EtCO2, PaCO2, PaO2, pH, BE và phân tích mối tương quan giữa PaCO2 động mạch và EtCO2 cuối thì thở ra tại các thời điểm nghiên cứu.
  • Ảnh hưởng huyết động, nhãn áp và tác dụng không mong muốn: Sự biến thiên của tần số tim, huyết áp (tâm thu, tâm trương, trung bình), nhãn áp sau đặt MTQ và tỷ lệ xuất hiện các tác dụng không mong muốn ở các giai đoạn khởi mê, duy trì và thoát mê.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả đi sâu phân tích và đối chiếu kết quả nghiên cứu với y văn trong và ngoài nước:

  • Bàn luận về đặc điểm sinh lý bệnh của trẻ sinh thiếu tháng liên quan đến cân nặng lúc sinh và tuổi thai.
  • Khẳng định tính khả thi và hiệu quả của sevofluran kết hợp MTQ để tự thở: thời gian khởi mê nhanh, độ sâu gây mê ổn định mà không cần thuốc giãn cơ, duy trì thông khí sinh lý và hạn chế hiện tượng xẹp phổi.
  • Phân tích độ an toàn về hô hấp và tuần hoàn: mức độ ứ trệ CO2 nằm trong giới hạn bù trừ sinh lý, không gây toan hô hấp mất bù; huyết động duy trì ổn định, không làm tăng nhãn áp gây cản trở phẫu thuật nội nhãn.
  • Đánh giá các biến cố ngoại ý: tỷ lệ co thắt thanh quản, tụt SpO2 hay loạn nhịp tim ở mức rất thấp và xử trí dễ dàng so với các kỹ thuật đặt NKQ truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả chính của luận án

  1. Hiệu quả kiểm soát đường thở và thông khí:
    • Kỹ thuật đặt MTQ ở trẻ nhũ nhi có tiền sử sinh thiếu tháng đạt tỷ lệ thành công cao ngay từ lần đặt đầu tiên, thao tác thuận lợi, áp lực cuff được kiểm soát tốt giúp đường thở kín khít mà không gây chèn ép tổn thương niêm mạc hầu họng.
    • Trẻ duy trì tự thở ổn định dưới tác dụng của sevofluran; thể tích lưu thông thở ra (VtE) và thông khí phút (MV) đảm bảo quá trình trao đổi khí. Tương quan giữa PaCO2 và EtCO2 chặt chẽ, tình trạng thông khí được theo dõi liên tục, an toàn.
  2. Độ an toàn về huyết động, nhãn áp và tác dụng không mong muốn:
    • Tần số tim và các chỉ số huyết áp (HATT, HATTr, HATB) duy trì trong giới hạn an toàn, ít biến động ở các thời điểm khởi mê, duy trì và sau rút MTQ.
    • Nhãn áp sau khi đặt MTQ giữ ở mức ổn định, không xuất hiện các cơn tăng nhãn áp kịch phát, tạo điều kiện thuận lợi và an toàn tuyệt đối cho phẫu thuật viên thao tác trong buồng nội nhãn.
    • Tỷ lệ tai biến và tác dụng không mong muốn (như co thắt thanh quản, trào ngược dạ dày, hạ oxy máu hay loạn nhịp tim) ở mức rất thấp, thời gian thoát mê và hồi tỉnh nhanh.

Những đóng góp mới về thực tiễn và lý luận

  • Về mặt khoa học: Công trình là nghiên cứu can thiệp lâm sàng có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam chứng minh tính khả thi, hiệu quả và độ an toàn của phương pháp gây mê hô hấp bằng sevofluran qua MTQ để tự thở trên đối tượng bệnh nhi nhũ nhi có tiền sử sinh non.
  • Về mặt thực hành lâm sàng:
    • Xây dựng quy trình vô cảm chuẩn hóa không cần sử dụng thuốc giãn cơ và opioid, giúp loại bỏ nguy cơ tồn dư giãn cơ và suy hô hấp sau mổ ở trẻ sinh thiếu tháng.
    • Khẳng định MTQ là phương tiện kiểm soát đường thở thay thế an toàn, hiệu quả cho ống nội khí quản trong các phẫu thuật nội nhãn ngắn ở bệnh nhi nguy cơ cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm chuyên khoa mắt tuyến cuối (Bệnh viện Mắt Trung ương) trên các phẫu thuật nội nhãn có thời gian tương đối ngắn (dưới 60 phút), do đó các kết luận chưa thể khái quát hóa hoàn toàn cho các đại phẫu kéo dài.
  • Đối tượng nghiên cứu đã loại trừ các bệnh nhi có bệnh tim bẩm sinh phức tạp chưa sửa chữa hoặc bệnh lý nhiễm trùng hô hấp cấp tính tiến triển, nên chưa phản ánh toàn bộ các tình huống lâm sàng nặng nề nhất.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng ứng dụng phương pháp gây mê hô hấp bằng sevofluran để tự thở qua MTQ sang các chuyên khoa phẫu thuật nhi khác (như ngoại nhi, tai mũi họng, tạo hình) trên nhóm trẻ có tiền sử sinh thiếu tháng.
  • Nghiên cứu sâu hơn về các dòng mát thanh quản thế hệ mới (như I-gel) và theo dõi đánh giá chức năng hô hấp, phát triển thần kinh lâu dài của trẻ sau gây mê.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị đối với:

  • Bác sĩ Gây mê - Hồi sức: Cung cấp cơ sở lý thuyết toàn diện về sinh lý trẻ sinh non, kỹ thuật chuẩn độ nồng độ sevofluran, cách chọn cỡ và kiểm soát áp lực cuff MTQ, cùng phương pháp theo dõi huyết động và khí máu trong gây mê tự thở.
  • Bác sĩ Nhãn khoa Nhi: Giúp hiểu rõ cơ chế tương tác giữa kỹ thuật vô cảm và sự biến thiên nhãn áp, tạo sự phối hợp nhịp nhàng giữa phẫu thuật viên và kíp gây mê trong điều trị bệnh võng mạc trẻ đẻ non, glôcôm và đục thể thủy tinh.
  • Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh: Cung cấp mô hình thiết kế nghiên cứu lâm sàng can thiệp có đối chứng chặt chẽ, phương pháp tính cỡ mẫu chuẩn xác và hệ thống y văn tham khảo phong phú về gây mê nhãn khoa nhi.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao trẻ sinh thiếu tháng phẫu thuật nội nhãn lại có nguy cơ gây mê cao hơn trẻ đủ tháng?

Trẻ sinh thiếu tháng có hệ hô hấp chưa trưởng thành (thiếu hụt surfactant, FRC chỉ chiếm 10% TLC, cơ hoành ít sợi cơ loại I chống mỏi cơ), dễ mắc bệnh dị sản phổi (BPD) và có nguy cơ ngừng thở sau mổ cao. Bên cạnh đó, hệ tuần hoàn chưa hoàn thiện, dễ loạn nhịp và đáp ứng bù trừ kém khi hạ huyết áp, cùng với nguy cơ tăng kích thích đường thở khi đặt và rút ống nội khí quản.

2. Ưu điểm nổi bật của việc sử dụng mát thanh quản (MTQ) so với đặt ống nội khí quản (NKQ) ở trẻ nhỏ là gì?

Đặt MTQ có tỷ lệ thành công cao, kỹ thuật thực hiện dễ dàng hơn, không xâm lấn qua dây thanh âm nên ít gây phản xạ kích thích giao cảm (mạch và huyết áp chỉ biến động 0-20% so với 25-50% của NKQ). MTQ giúp giảm sức cản đường thở, tránh tổn thương và phù nề thanh môn, không làm tăng nhãn áp và giảm đáng kể tỷ lệ co thắt thanh phế quản khi rút ống.

3. Vì sao Sevofluran là thuốc mê được lựa chọn hàng đầu cho phương pháp gây mê tự thở ở trẻ em?

Sevofluran có hệ số hòa tan máu/khí thấp (0,6), không có mùi hắc cay, không gây kích thích đường hô hấp, giúp khởi mê nhanh (dưới 2 phút ở nồng độ cao tới 7-8%) và thoát mê nhanh (3-4 phút). Thuốc làm giãn cơ trơn phế quản và ít gây ức chế co bóp cơ tim hay tụt huyết áp khi duy trì ở chế độ tự thở.

4. Cỡ mẫu nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào?

Cỡ mẫu được tính toán dựa trên công thức so sánh hai giá trị trung bình về chỉ số EtCO2 từ các nghiên cứu quốc tế của Aparna Sinha ($\mu_1 = 41,3 \pm 3,9$) và Lynne ($\mu_2 = 44 \pm 2$). Với mức ý nghĩa $\alpha = 0,01$ (sai số loại I: 1%) và lực mẫu $1 - \beta = 0,9$ ($\beta = 0,1$), số lượng bệnh nhân tối thiểu cần thu thập là 44 bệnh nhi cho mỗi nhóm nghiên cứu.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đình Luyến đã giải quyết trọn vẹn hai mục tiêu nghiên cứu đặt ra, khẳng định phương pháp gây mê hô hấp bằng sevofluran qua mát thanh quản để tự thở là kỹ thuật vô cảm an toàn và hiệu quả cao trong phẫu thuật nội nhãn ở trẻ nhũ nhi có tiền sử sinh thiếu tháng. Phương pháp này đảm bảo duy trì thông khí và oxy hóa máu ổn định, kiểm soát tốt nhãn áp và huyết động, đồng thời giảm thiểu tối đa các phản xạ kích thích đường thở cũng như các tác dụng không mong muốn so với kỹ thuật đặt nội khí quản truyền thống. Công trình cung cấp cơ sở khoa học xác đáng và quy trình kỹ thuật thực tiễn giá trị, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của chuyên ngành Gây mê hồi sức và Nhãn khoa nhi tại Việt Nam.