Luận án tiến sĩ về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng việt đối chiếu với tiếng anh, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2017

208
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tại Việt Nam

1.4. Cơ sở lý luận của luận án

1.4.1. Một số vấn đề về lý thuyết hội thoại

1.4.2. Hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp hội thoại

1.4.3. Một số vấn đề về ngôn ngữ học đối chiếu

1.4.4. Sự phân tầng xã hội trong giao tiếp ngôn ngữ

1.4.5. Cách tiếp cận của luận án

1.4.6. Khái niệm “ngắt lời”

1.4.7. Tiêu chí nhận diện hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp

1.4.8. Cách thức phân loại ngắt lời trong giao tiếp

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ HIỆN TƯỢNG NGẮT LỜI TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)

2.1. Các loại ngắt lời và mức độ xuất hiện trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

2.2. Ngắt lời thành công và các tiểu nhóm trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

2.3. Ngắt lời không thành công và các tiểu nhóm trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

2.4. Mức độ xuất hiện của các tiểu nhóm ngắt lời trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

2.5. Chức năng của các loại ngắt lời trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

2.6. Đặc điểm hiện tượng ngắt lời xét trên bình diện cấu trúc và chức năng trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

2.6.1. Đặc điểm hiện tượng ngắt lời xét trên bình diện cấu trúc trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

2.6.2. Đặc điểm hiện tượng ngắt lời xét trên bình diện chức năng trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP: HIỆN TƯỢNG NGẮT LỜI TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ GIỚI (ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH)

3.1. Đặc điểm hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt từ góc độ giới (đối chiếu với tiếng Anh)

3.2. Mức độ sử dụng ngắt lời trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt từ góc độ giới (đối chiếu với tiếng Anh)

3.3. Chức năng của các loại ngắt lời trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt từ góc độ giới (đối chiếu với tiếng Anh)

3.4. Đặc điểm về cách thức ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt từ góc độ giới (đối chiếu với tiếng Anh)

3.5. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt và tiếng Anh

Hiện tượng ngắt lời là một phần không thể thiếu trong giao tiếp hàng ngày. Nó không chỉ phản ánh cách thức giao tiếp mà còn thể hiện những đặc điểm văn hóa của mỗi ngôn ngữ. Nghiên cứu hiện tượng này giúp hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Việc so sánh hiện tượng ngắt lời trong hai ngôn ngữ này sẽ làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức giao tiếp.

1.1. Định nghĩa và khái niệm về ngắt lời trong giao tiếp

Ngắt lời được định nghĩa là hành động một người tham gia giao tiếp cắt ngang lời nói của người khác. Hiện tượng này có thể xảy ra trong nhiều tình huống khác nhau và có thể được phân loại thành ngắt lời thành công và không thành công. Việc hiểu rõ khái niệm này là cần thiết để phân tích sâu hơn về tác động của nó trong giao tiếp.

1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu ngắt lời trong giao tiếp

Nghiên cứu hiện tượng ngắt lời không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp mà còn giúp nhận diện những vấn đề văn hóa có thể phát sinh trong giao tiếp liên văn hóa. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa, nơi mà việc giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau ngày càng trở nên phổ biến.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu hiện tượng ngắt lời

Mặc dù hiện tượng ngắt lời đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ. Các nhà nghiên cứu gặp phải nhiều thách thức trong việc thu thập dữ liệu và phân tích hiện tượng này. Sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Anh cũng tạo ra những khó khăn trong việc so sánh và đối chiếu.

2.1. Những khó khăn trong việc thu thập dữ liệu

Việc ghi âm các cuộc hội thoại thực tế để nghiên cứu hiện tượng ngắt lời gặp nhiều trở ngại. Nhiều cuộc hội thoại không được ghi lại một cách chính xác, dẫn đến việc thiếu hụt dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu.

2.2. Sự khác biệt văn hóa ảnh hưởng đến ngắt lời

Mỗi nền văn hóa có những quy tắc riêng về giao tiếp, trong đó có việc ngắt lời. Sự khác biệt này có thể dẫn đến hiểu lầm và xung đột trong giao tiếp giữa các nền văn hóa, đặc biệt là giữa người Việt và người Anh.

III. Phương pháp nghiên cứu hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp

Để nghiên cứu hiện tượng ngắt lời, các nhà nghiên cứu thường sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phân tích diễn ngôn, khảo sát và quan sát. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, và việc kết hợp chúng sẽ giúp thu thập dữ liệu một cách toàn diện hơn.

3.1. Phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu ngắt lời

Phân tích diễn ngôn giúp hiểu rõ hơn về ngữ cảnh và các yếu tố tác động đến hiện tượng ngắt lời. Phương pháp này cho phép các nhà nghiên cứu xem xét các yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống và chiến lược giao tiếp.

3.2. Khảo sát và quan sát trong nghiên cứu

Khảo sát và quan sát là hai phương pháp quan trọng giúp thu thập dữ liệu thực tế về hiện tượng ngắt lời. Việc ghi lại các cuộc hội thoại trong các chương trình truyền hình hoặc các tình huống giao tiếp thực tế sẽ cung cấp thông tin quý giá cho nghiên cứu.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu hiện tượng ngắt lời

Nghiên cứu hiện tượng ngắt lời có thể mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn trong giao tiếp hàng ngày. Hiểu rõ về cách thức và chức năng của ngắt lời sẽ giúp người tham gia giao tiếp cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình, từ đó tạo ra những cuộc hội thoại hiệu quả hơn.

4.1. Cải thiện kỹ năng giao tiếp qua việc hiểu ngắt lời

Việc nhận thức rõ về hiện tượng ngắt lời sẽ giúp người tham gia giao tiếp điều chỉnh hành vi của mình, từ đó nâng cao hiệu quả giao tiếp. Điều này đặc biệt quan trọng trong các tình huống giao tiếp liên văn hóa.

4.2. Giảm thiểu xung đột trong giao tiếp

Hiểu rõ về ngắt lời và các quy tắc giao tiếp của từng nền văn hóa sẽ giúp giảm thiểu xung đột và hiểu lầm trong giao tiếp. Điều này góp phần tạo ra môi trường giao tiếp hòa hợp hơn.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu hiện tượng ngắt lời

Nghiên cứu hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt và tiếng Anh không chỉ giúp làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị cho việc cải thiện giao tiếp giữa các nền văn hóa.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu liên văn hóa

Nghiên cứu hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp liên văn hóa sẽ giúp nâng cao nhận thức về sự đa dạng trong giao tiếp. Điều này không chỉ có lợi cho các nhà nghiên cứu mà còn cho những người tham gia giao tiếp hàng ngày.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Tương lai của nghiên cứu hiện tượng ngắt lời có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác như tâm lý học, xã hội học và văn hóa học. Việc kết hợp các lĩnh vực này sẽ giúp làm phong phú thêm hiểu biết về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng việt đối chiếu với tiếng anh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp trên thế giới Ngắt lời là một hiện tượng thường xuất hiện trong các cuộc thoại và có đóng góp không nhỏ tới thành công của các cuộc giao tiếp. Không những vậy, ngắt lời nếu không được tìm hiểu một cách thấu đáo và sử dụng một cách hợp lý có thể gây ảnh hưởng lớn tới mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia giao tiếp.

Từ lâu, ngắt lời đã được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới chú ý, để tâm nghiên cứu và đưa ra một số kết quả nhất định. Tìm hiểu các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ngắt lời được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu trong lĩnh vực dụng học và ngôn ngữ học ứng dụng ở các góc độ khác nhau, ví dụ như hành vi ngôn ngữ, lý thuyết lịch sự, dụng học tương tác, v. Ngắt lời cũng được xem xét trong các khung cảnh giao tiếp khác nhau và ở các cấp độ phân tích ngôn ngữ đa dạng từ ngôn điệu đến hình thái học, cú pháp và ngữ nghĩa học. Dưới đây chúng tôi điểm theo cách hệ thống hóa các hướng nghiên cứu cơ bản về ngắt lời trên thế giới.

Nghiên cứu hiện tượng ngắt lời theo hướng ngôn ngữ học xã hội Theo hướng ngôn ngữ học xã hội, các nhà ngôn ngữ đã tập trung nghiên cứu hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp dưới sự tác động của hai nhân tố chính là giới và quyền lực. Thứ nhất là hướng nghiên cứu về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp từ góc độ giới. Vấn đề được các nhà ngôn ngữ học quan tâm ở đây là liệu có sự khác biệt về giới khi sử dụng ngắt lời trong giao tiếp và nếu như có sự khác biệt thì yếu tố nào ảnh hưởng đến sự khác biệt này. Có hai khuynh hướng đối lập nhau giữa các nhà ngôn ngữ học khi bàn về vai trò của giới đối với ngắt lời trong giao tiếp.

13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khuynh hướng thứ nhất phủ nhận vai trò của nhân tố giới đối với ngắt lời trong giao tiếp. Theo khuynh hướng này, nhiều tác giả đã khẳng định không có sự khác biệt nào giữa nam giới và nữ giới khi họ thực hiện ngắt lời trong giao tiếp. Ví dụ: “Gender, language, and influence” (Giới, ngôn ngữ và sự ảnh hưởng) của Carli (1990) [63]; “The effects of sex of subject and sex of partner on interruptions” (Những ảnh hưởng của giới trong chủ đề và vai giao tiếp với ngắt lời) của Dindia (1987) [70]; “Gender, legitimate authority, and leader- subordinate conversations” (Giới, thẩm quyền hợp pháp và các cuộc thoại phụ thuộc vào người dẫn) của Johnson (1994) [92]. Khuynh hướng thứ hai khẳng định vai trò của nhân tố giới đối với ngắt lời trong giao tiếp.

Để trả lời cho câu hỏi thường được đặt ra trong các nghiên cứu về giới là trong hai giới nam và nữ, giới nào thường ngắt lời nhiều hơn và mục đích ngắt lời của mỗi giới có tương đồng với nhau hay không? Các tác giả đã tập trung vào nghiên cứu về cách tiếp cận, môi trường giao tiếp, quan hệ giữa các vai giao tiếp và chủ đề giao tiếp như là những nhân tố tạo nên sự khác biệt này. Trong công trình nghiên cứu “Sex roles, interruptions and silences in conversation” (Vai trò của giới, ngắt lời và im lặng trong hội thoại) của Zimmerman D. (1975) [136], các tác giả đã sử dụng phương pháp trò chuyện theo lối tán gẫu tại khuôn viên Santa Barbara của Đại học California năm 1975 và đã cho ghi âm 31 đoạn thoại giữa hai chủ thể (10 đoạn thoại giữa hai chủ thể là nam, 10 đoạn thoại giữa hai chủ thể là nữ và 11 đoạn thoại giữa hai chủ thể khác giới), đối tượng được ghi âm là những người da trắng, thuộc tầng lớp trung lưu và đều trong độ tuổi từ 20 đến 35, mối quan hệ giữa các chủ thể cũng khá đa dạng từ mức độ thân thiết bạn bè đến mức độ xã giao giữa y tá và bệnh nhân. Các đoạn thoại được ghi âm tại những địa điểm khá phù hợp cho những cuộc nói chuyện gẫu như quán cà phê, hiệu thuốc, trong khuôn viên một trường đại học.

Các chủ đề cũng được lựa chọn một cách ngẫu nhiên như các cuộc tranh cãi giữa những người yêu nhau, giữa những người bạn hay chỉ đơn thuần là một cuộc giao tiếp xã giao giữa các chủ thể lần đầu gặp mặt. Từ kết quả 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân tích các đoạn thoại, Zimmerman D. (1975) [136] đã thấy rằng: trong các cuộc trò chuyện này, nam giới thường có vẻ thích ngắt lời người khác hơn là nữ giới. Họ cho hay trong 11 cuộc trò chuyện giữa nam và nữ, nam giới sử dụng 46 hình thức ngắt lời trong khi ở nữ giới là 2.

Từ mô hình nghiên cứu tương đối nhỏ này, Zimmerman D. đã kết luận rằng “mức độ ngắt lời của nam giới là nhiều hơn nữ giới vì khi đó họ đang thống trị hoặc cố gắng tỏ ra thống trị và họ cho rằng mình là người có uy quyền hơn. Nam giới đặt cho mình quyền lựa chọn các chủ đề cũng như tự thực hiện các chủ đề đó mà không cần nghĩ tới các hệ quả có thể xảy ra. Bên cạnh đó, nam giới cũng từ chối địa vị bình đẳng với nữ giới khi thực hiện các vai giao tiếp với mong muốn thực hiện đầy đủ các lượt thoại của mình” ([136], tr.

Công trình nghiên cứu của Zimmerman D. đã nhận được nhiều sự ủng hộ và được phản ánh trong các nghiên cứu như: “Sex role differences in the relational control dimension of dyadic interaction” (Sự khác biệt về giới từ khía cạnh kiểm soát trong tương tác đôi) của Bohn & Stutman (1983) [56]; “Sex differences in student dominance behavior in female and male professors’ classrooms” (Sự khác biệt giới trong hành vi kiểm soát sinh viên của các giảng viên nam và nữ tại các lớp học) của Brooks (1982) [57], hay “Cultural differences, not deficiencies: An analysis of managerial women’s language” (Khác biệt văn hóa, không phải không có năng lực: Nghiên cứu trường hợp ngôn ngữ của các nữ giám đốc) của Case (1988) [64], v. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu trong các bài viết như “A new look at interruptions” (Một cách nhìn mới về ngắt lời) của Kennedy & Camden (1983) [94] và “Sex differences in interruptions. An experimental reevaluation” (Những khác biệt về giới trong ngắt lời.

Sự tái đánh giá thực nghiệm) của Nohara (1992) [108] lại cho thấy rằng nữ giới ngắt lời nhiều hơn nam giới. Cũng liên quan đến sự ảnh hưởng của nhân tố giới tới ngắt lời, Leaper C. (1994) [97] trong công trình “Exploring the consequences of gender segregation on social relationships” (Tìm hiểu những hậu quả của sự phân biệt 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới tới các mối quan hệ xã hội) đã thực hiện nghiên cứu 43 trường hợp trong các bối cảnh giao tiếp tự nhiên và tại phòng thí nghiệm nhằm trả lời cho câu hỏi đang gây tranh cãi hiện nay là liệu rằng trong hai giới nam và nữ, ai là người ngắt lời bạn thoại của mình nhiều hơn? Tác giả đã phát hiện ra nhân tố tác động đến hiện tượng ngắt lời giữa nam và nữ là sự thân sơ giữa các chủ thể giao tiếp. Với 6 cặp thoại được thực hiện giữa các chủ thể giao tiếp có mức độ quen thân khá lớn và 11 cặp thoại trong đó các chủ thể giao tiếp là những người xa lạ với nhau, kết quả cho thấy những người không có mối quan hệ quen thân sẽ phụ thuộc nhiều hơn các yếu tố chi phối hành vi ứng xử của họ.

Ngược lại, những người có mối quan hệ quen thân như bạn thân, họ hàng sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tính cách của mỗi cá nhân (Drass, 1986 [71]; Wood & Karten, 1986 [133]). (2008) [112] trong công trình nghiên cứu “Gender in Interruptive Turns at Talk-In-Interaction” (Yếu tố giới ở các lượt ngắt lời trong giao tiếp tương tác) đã tiến hành ghi âm một cuộc trò chuyện giữa hai người bạn khác giới. Dữ liệu phân tích từ cuộc hội thoại này cho thấy ngắt lời là một hiện tượng trong giao tiếp do các chủ thể giao tiếp thực hiện nhằm xây dựng các mối quan hệ cũng như để xây dựng phong cách cộng tác trong hội thoại. Tuy nhiên, điều này không thể mang ra áp dụng cho mọi tình huống và cũng không thể trở thành các đặc tính của hội thoại.

Hơn thế nữa, kết quả nghiên cứu cũng ngầm chỉ về vai trò của giới. Ở đây, tác giả không cho rằng nam giới là nhân tố tạo nên quyền lực trong giao tiếp hội thoại mà nhấn mạnh tới các quyền của nữ giới. Từ đó, tác giả đã đề xuất rằng nghiên cứu ngắt lời nên dựa trên các bối cảnh giao tiếp cụ thể chứ không nên xuất phát từ những đặc tính của từng cá nhân. Một kết quả khá bất ngờ được tác giả chỉ ra ở đây là sự kết hợp giữa hai yếu tố giới và quyền lực.

Trong hội thoại, quyền lực không hoàn toàn thuộc về một cá nhân này hay cá nhân khác. Thay vào đó, quyền lực tồn tại và được các chủ thể giao tiếp sử dụng nhằm đạt được mục đích hội thoại, để làm chủ cuộc thoại hay chuyển hướng chủ đề cuộc thoại. Cùng cho rằng bối cảnh giao tiếp có ảnh hưởng trực tiếp đến thành công của hội thoại, Leaper C. (1994) [97] cũng đã 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến hành ghi âm các cuộc hội thoại trong các phòng thí nghiệm, trong văn phòng và cả trong bối cảnh giao tiếp tự nhiên.

Tác giả đã đi đến kết luận như sau: Sự khác biệt về giới khi sử dụng ngắt lời thể hiện rõ trong bối cảnh giao tiếp tự nhiên hơn là tại các phòng nghiên cứu. Tác giả diễn giải rằng yếu tố tạo nên sự khác biệt ở đây là do ngắt lời có thể được coi là một cách hành xử thô bạo trong giao tiếp, có lẽ vì lý do này mà mọi người thường cảm thấy có sự gò bó khi ngắt lời trong các cuộc thoại tiến hành trong các phòng nghiên cứu hơn là trong bối cảnh giao tiếp tự nhiên. Tuy nhiên, do chỉ có ba trong số 17 trường hợp nghiên cứu được tiến hành trong bối cảnh tự nhiên nên bản thân tác giả cũng chưa hoàn toàn chắc chắn với các kết luận của mình. Mặc dù vậy, tác giả cũng đã khẳng định rằng sự khác biệt trong ứng xử có liên quan tới nhân tố giới chịu ảnh hưởng bởi nhân tố cảnh huống hơn là sự khác nhau rõ ràng giữa nam và nữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ