Tổng quan luận án

Công trình "Hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số 62 22 02 40), được tác giả Phạm Hồng Vân thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Văn Khang.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngắt lời là một hiện tượng phổ biến trong hoạt động giao tiếp hội thoại hàng ngày. Ở mỗi cộng đồng ngôn ngữ, hiện tượng ngắt lời chịu sự chi phối bởi các quan niệm văn hóa, đặc trưng tâm lý, địa vị xã hội và mối quan hệ quyền lực giữa các chủ thể tham gia tương tác. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự gia tăng của hoạt động giao tiếp liên văn hóa sử dụng tiếng Anh, sự khác biệt về phương thức ngắt lời có thể trở thành rào cản hoặc nguyên nhân gây xung đột văn hóa.

Văn bản luận án nêu rõ khoảng trống nghiên cứu: trong khi hiện tượng ngắt lời đã được các học giả quốc tế nghiên cứu sâu rộng và đa dạng từ nhiều bình diện dụng học, xã hội học ngôn ngữ, thì tại Việt Nam, hiện tượng này chưa được quan tâm tương xứng. Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình chuyên biệt nào khảo sát một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt trong sự đối chiếu với tiếng Anh.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là góp phần nghiên cứu lý luận về giao tiếp ngôn ngữ nói chung và giao tiếp liên văn hóa nói riêng; chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ của hiện tượng ngắt lời trong tiếng Việt và tiếng Anh; đồng thời lý giải những nhân tố ngôn ngữ xã hội tác động đến hiện tượng này giữa các nhóm người trong các cộng đồng giao tiếp khác nhau.

Luận án xác lập 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Xác lập khung lí thuyết làm cơ sở nghiên cứu hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt.
  2. Khảo sát, chỉ ra các cách thức, mức độ sử dụng và chức năng của hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt; đồng thời đối chiếu với hiện tượng ngắt lời trong tiếng Anh nhằm làm nổi bật đối tượng nghiên cứu, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt và tiếng Anh.
  3. Tiến hành khảo sát trường hợp: tác động của nhân tố giới đến hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt và tiếng Anh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng ngắt lời được biểu hiện bằng phương tiện ngôn từ (bằng lời). Các hành vi ngắt lời phi lời (cử chỉ, nét mặt như xua tay, mỉm cười, nháy mắt, ra dấu hiệu) không thuộc đối tượng khảo sát của luận án.
  • Phạm vi nghiên cứu: Hiện tượng ngắt lời xuất hiện trong các cuộc giao tiếp song thoại giữa những người thuộc các nhóm xã hội giống nhau và khác nhau. Tư liệu nghiên cứu phản ánh các cuộc giao tiếp hiện nay (thời điểm 2017), một số ngữ liệu văn học giai đoạn 1930–1945 được đưa vào nhằm tăng tính đa dạng cho chất liệu khảo sát.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về hiện tượng ngắt lời trên thế giới và tại Việt Nam theo các nhóm chủ đề và khuynh hướng tiếp cận cụ thể.

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  1. Nghiên cứu ngắt lời theo hướng ngôn ngữ học xã hội:
    • Góc độ giới tính (Gender): Tồn tại hai khuynh hướng đối lập:
      • Khuynh hướng phủ nhận sự khác biệt giới: Carli (1990), Dindia (1987), Johnson (1994) khẳng định không có sự khác biệt giữa nam và nữ khi thực hiện ngắt lời.
      • Khuynh hướng khẳng định vai trò của giới: Zimmerman và West (1975) qua khảo sát 31 đoạn thoại tại Đại học California (Santa Barbara) chỉ ra rằng trong 11 cuộc thoại nam - nữ, nam giới ngắt lời 46 lần trong khi nữ giới chỉ ngắt lời 2 lần, từ đó cho rằng nam giới dùng ngắt lời để thể hiện vị thế thống trị. Quan điểm này được ủng hộ bởi Bohn & Stutman (1983), Brooks (1982), Case (1988). Ngược lại, Kennedy & Camden (1983) và Nohara (1992) lại ghi nhận nữ giới ngắt lời nhiều hơn nam giới. Leaper (1994) phát hiện yếu tố mức độ thân sơ (thân thiết hay xa lạ) và bối cảnh (tự nhiên hay phòng thí nghiệm) chi phối mạnh đến hành vi ngắt lời. Itakura (2008) chỉ ra ngắt lời được sử dụng để xây dựng quan hệ cộng tác và quyền lực không cố định theo cá nhân mà gắn liền với bối cảnh tương tác.
    • Góc độ quyền lực (Power): Momeni (2011) khảo sát hiện tượng ngắt lời trong các cuộc thẩm vấn của cảnh sát, chứng minh quan hệ không cân xứng khi nhân viên cảnh sát liên tục ngắt lời bị cáo để kiểm soát lượt lời và diễn ngôn.
  2. Nghiên cứu ngắt lời theo hướng giao tiếp liên văn hóa:
    • Murata (1991, 1994) chỉ ra phong cách hội thoại ưa hợp tác của người Nhật khiến họ thiên về ngắt lời cộng tác.
    • Han (2001) khảo sát 40 người Canada và 40 người Trung Quốc, xác nhận người Trung Quốc dùng nhiều ngắt lời cộng tác hơn, trong khi người Canada có xu hướng dùng ngắt lời xâm phạm; các cặp thoại khác nền văn hóa có tỷ lệ ngắt lời không thành công và ngắt lời xâm phạm cao hơn các cặp thoại cùng nền văn hóa. Các nghiên cứu của Watzlawick, Bavelas & Jackson (1967) và Guillot (2005) cũng ủng hộ tính đặc thù văn hóa của phong cách ngắt lời.

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chưa có công trình độc lập khảo sát toàn diện về ngắt lời, hiện tượng này chủ yếu được đề cập gián tiếp trong các công trình về hội thoại, lịch sự và quan hệ quyền thế:

  • Đinh Văn Đức (2012) xem ngắt lời, nói leo, nói thay là hành vi xâm phạm lãnh địa, làm tổn hại thể diện cần phải tránh.
  • Nguyễn Đức Dân (2000) nhận định nói "xen ngang", ngắt lời là hiện tượng không bình thường, không lịch sự (trừ khi tranh luận), phản ánh tôn ti trật tự xã hội.
  • Nguyễn Văn Khang (2012) phân tích quy tắc luân lưu lượt lời, chỉ ra xã hội Việt Nam rất kị cách cướp lời không xin lỗi, đồng thời dẫn chứng so sánh với tập tục tại bản Antique ở Ấn Độ.
  • Phạm Thị Thu Trang (2008) chỉ ra hiện tượng tranh lời, cướp lời, chêm xen gắn liền với nhân vật ở vị thế cao nhằm khẳng định quyền thế và đe dọa thể diện đối tác.
  • Phạm Văn Thấu (2000) phân tích cấu trúc cặp chêm xen với chức năng liên nhân, chống nhiễu, sửa chữa hoặc chuyển hướng đề tài.
  • Mai Thị Hảo Yến (2001) khảo sát hiện tượng tranh cướp lời được từ vựng hóa trong lời dẫn thoại ở truyện ngắn Nam Cao.
  • Vũ Tiến Dũng (2003) nghiên cứu mối quan hệ giữa lịch sự và giới tính, phân biệt giữa lý thuyết lịch sự chiến lược (Âu - Mỹ) và lý thuyết lịch sự chuẩn mực (phương Đông dựa trên Gu, Matsumoto).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án định vị là công trình đầu tiên xác lập khung lý thuyết hệ thống, phân loại chi tiết các dạng ngắt lời và tiến hành khảo sát thực nghiệm định lượng kết hợp phân tích định tính trên ngữ liệu đối chiếu tiếng Việt và tiếng Anh, đặc biệt đi sâu vào biến số giới tính trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Lý thuyết hội thoại: Sử dụng khung lý thuyết của Đỗ Hữu Châu (2012) về cấu trúc hội thoại, thoại trường, các vận động hội thoại (trao lời, trao đáp, tương tác), vị trí chuyển tiếp quan yếu (Transition Relevance Place - TRP), chỗ nghỉ (pause) và chỗ ngừng (gap).
  2. Tương tác hội thoại và quan hệ liên nhân:
    • Nguyên lý cộng tác của Grice (1975), phân biệt hành động nói cộng tác và hành động nói cạnh tranh.
    • Mô hình quan hệ liên nhân của Nguyễn Đức Dân (2000) gồm hai trục: trục tung (quyền uy - power) và trục hoành (thân hữu/khoảng cách - solidarity).
  3. Lý thuyết lịch sự và thể diện:
    • Nguyên lý lịch sự của R. Lakoff (1977) gồm 3 quy tắc: không áp đặt, để ngỏ sự lựa chọn, khích lệ tình bằng hữu.
    • Nguyên lý lịch sự của G. Leech (1983) gồm 6 phương châm (Khéo léo, Hào hiệp, Tán thưởng, Khiêm tốn, Tán đồng, Cảm thông) dựa trên cán cân chi phí - lợi ích (cost - benefit).
    • Lý thuyết thể diện của P. Brown & S. Levinson (1987) kế thừa E. Goffman: phân biệt thể diện dương tính (positive face) và thể diện âm tính (negative face), các hành động đe dọa thể diện (Face Threatening Act - FTA) và hành động giữ thể diện (Face Saving Act - FSA).
  4. Ngôn ngữ học đối chiếu và phân tầng xã hội:
    • Khung nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ của Lê Quang Thiêm (2004).
    • Khái niệm phân tầng xã hội trong ngôn ngữ học của Nguyễn Văn Khang (2014) dựa trên đặc điểm tự có và đặc điểm quy gán.
    • Sự đối lập phong cách giao tiếp: "Listener – Talk" của người Việt (Trần Ngọc Thêm, 2006) và "Speaker – Talk" của người Mỹ (Yamada, 1997).
  5. Khái niệm và phân loại ngắt lời:
    • Định nghĩa ngắt lời: tiếp nhận định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp (2000), theo đó ngắt lời là khi người nói thứ hai cất lời ở vị trí trong lời nói của người thứ nhất không có chỗ ngừng và chưa kết thúc câu hoặc cú đoạn.
    • Luận án tiếp nhận "gối lời" (overlap - dạng phần đầu của lượt lời sau chập với phần cuối của lượt lời đang nói) là một loại của ngắt lời.
    • Phân loại ngắt lời: kế thừa mô hình của Ferguson (1977), Han (2001, 2004, 2005) và Momeni (2011) để phân chia thành ngắt lời thành công, ngắt lời không thành công; phân nhóm chức năng gồm ngắt lời cạnh tranh, ngắt lời cộng tác và ngắt lời trung tính (theo James & Clarke, 1993; Murata, 1994; Kennedy & Camden, 1983; Goldberg, 1990; Tannen, 1994).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Xem xét, mô tả hiện tượng ngắt lời trong mối liên hệ chặt chẽ với ngữ cảnh tình huống, các nhân tố ngữ dụng và chiến lược giao tiếp.
  • Phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu: So sánh các đặc điểm cấu trúc, tần suất và chức năng của ngắt lời giữa ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt.
  • Phương pháp ngôn ngữ học xã hội: Áp dụng thủ pháp quan sát và phương pháp khảo sát trường hợp (case study) đối với giao tiếp của nam giới và nữ giới trên truyền hình.
  • Thủ pháp bổ trợ: Thủ pháp diễn dịch (xây dựng lập luận lý thuyết), thủ pháp thống kê phân loại, quy nạp và miêu tả qua hệ thống bảng biểu.

Nguồn tư liệu và ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu được thu thập từ hai nguồn chính với tổng số lượng cụ thể như sau:

Nguồn ngữ liệu Loại hình giao tiếp Số lượng ngắt lời tiếng Việt Số lượng ngắt lời tiếng Anh Tổng cộng
Giao tiếp nói Các đoạn song thoại trong chương trình đàm thoại và trò chơi truyền hình trên các kênh Đài Truyền hình Việt Nam 121 117 238
Giao tiếp viết Các đoạn song thoại trong tác phẩm văn học và truyện ngắn hiện đại 294 292 586
Tổng số ngữ liệu 415 409 824

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận của luận án

Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết cho toàn bộ công trình. Nội dung chương bao gồm:

  • Tổng quan lịch sử nghiên cứu hiện tượng ngắt lời trên thế giới (ngôn ngữ học xã hội, giao tiếp liên văn hóa) và tại Việt Nam (nghiên cứu hội thoại, quyền thế, lịch sự).
  • Trình bày hệ thống các khái niệm lý thuyết cốt lõi: bản chất của hội thoại, các vận động trao lời - trao đáp - tương tác, vị trí chuyển tiếp quan yếu (TRP), nguyên tắc cộng tác của Grice, quan hệ liên nhân (quyền lực và thân hữu), lý thuyết lịch sự và thể diện (Brown & Levinson, Leech, Lakoff), các đặc trưng phân tầng xã hội và phương pháp luận ngôn ngữ học đối chiếu.
  • Xác lập khái niệm "ngắt lời", phân biệt ngắt lời với các khái niệm liên quan trong tiếng Việt (gối lời, chêm lời, xen lời, tranh lời, cướp lời, tiếp lời) và xác lập tiêu chí nhận diện, tiếp nhận gối lời như một phân loại của ngắt lời.

Chương 2: Những đặc điểm chung về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)

Chương 2 tập trung khảo sát định lượng và phân tích định tính các đặc điểm cấu trúc và chức năng của ngắt lời trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anh. Nội dung triển khai qua các tiểu mục:

  • Phân loại và mức độ xuất hiện: Khảo sát ngắt lời thành công và các tiểu nhóm; ngắt lời không thành công và các tiểu nhóm; xác định tần suất và tỷ lệ xuất hiện của từng dạng trong ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Phân tích chức năng ngắt lời:
    • Ngắt lời cạnh tranh: Ngắt lời để bày tỏ sự bất đồng, giành quyền làm chủ cuộc thoại, thay đổi chủ đề, hoặc xa rời chủ đề.
    • Ngắt lời cộng tác: Ngắt lời nhằm mục đích ủng hộ, giúp đỡ (tìm từ, hoàn thiện câu), hoặc làm sáng tỏ vấn đề.
    • Ngắt lời trung tính: Ngắt lời để sửa chữa, yêu cầu làm rõ khi không nghe rõ, hoặc các phát ngôn khẩn cấp tức thì.
  • Đặc điểm bình diện cấu trúc và chức năng: Phân tích vị trí xuất hiện của phát ngôn ngắt lời so với điểm TRP, phân tích mối tương quan giữa đặc trưng cấu trúc cú pháp và ý định ngữ dụng, làm rõ sự tương phản giữa phong cách "Speaker – Talk" (tiếng Anh) và "Listener – Talk" (tiếng Việt).
  • Hệ thống bảng số liệu của chương:
    • Bảng 2.1: Phân loại ngắt lời trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
    • Bảng 2.2: Số lượng các loại ngắt lời trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt.
    • Bảng 2.3: Số lượng các loại ngắt lời trong các đoạn thoại bằng tiếng Anh.
    • Bảng 2.4: Số lượng các loại ngắt lời theo chức năng trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt.
    • Bảng 2.5: Số lượng các loại ngắt lời theo chức năng trong các đoạn thoại bằng tiếng Anh.
    • Bảng 2.6: Các phát ngôn thể hiện chức năng ngắt lời trong các đoạn thoại bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

Chương 3: Nghiên cứu trường hợp: Hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt từ góc độ giới (đối chiếu với tiếng Anh)

Chương 3 thực hiện nghiên cứu trường hợp chuyên sâu về tác động của biến số giới tính đến hành vi ngắt lời trên ngữ liệu truyền hình:

  • Mức độ sử dụng ngắt lời theo giới: So sánh tần suất và tỷ lệ ngắt lời của nam giới và nữ giới trong hai mô hình tương tác: đoạn thoại cùng giới (nam - nam, nữ - nữ) và đoạn thoại khác giới (nam - nữ) bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Chức năng ngắt lời theo giới: Thống kê và đối chiếu tỷ lệ thực hiện các chức năng ngắt lời cạnh tranh, ngắt lời cộng tác và ngắt lời không thành công giữa nam và nữ trong các bối cảnh giao tiếp.
  • Đặc điểm về cách thức ngắt lời:
    • Khảo sát các hành vi ngôn ngữ (speech acts) được thực hiện thông qua ngắt lời ở các nhóm giới.
    • Phân tích mức độ sử dụng ngắt lời phân loại theo mục đích nói của câu (câu trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán).
    • Khảo sát các dạng cặp thoại chứa phát ngôn ngắt lời trong giao tiếp cùng giới và khác giới.
  • Hệ thống bảng số liệu của chương:
    • Bảng 3.1: Số lượng các loại ngắt lời trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Việt.
    • Bảng 3.2: Số lượng ngắt lời cạnh tranh trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Việt.
    • Bảng 3.3: Số lượng ngắt lời cộng tác trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Việt.
    • Bảng 3.4: Số lượng ngắt lời không thành công trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Việt.
    • Bảng 3.5: Số lượng ngắt lời theo chức năng trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Anh.
    • Bảng 3.6: Số lượng ngắt lời cạnh tranh trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Anh.
    • Bảng 3.7: Số lượng ngắt lời cộng tác trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Anh.
    • Bảng 3.8: Số lượng ngắt lời không thành công trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Anh.
    • Bảng 3.9: Các hành vi ngôn ngữ được thực hiện qua ngắt lời trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Việt.
    • Bảng 3.10: Các hành vi ngôn ngữ được thực hiện qua ngắt lời trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Anh.
    • Bảng 3.11: Mức độ sử dụng ngắt lời thông qua các câu phân loại theo mục đích nói trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Việt.
    • Bảng 3.12: Mức độ sử dụng ngắt lời thông qua các câu phân loại theo mục đích nói trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Anh.
    • Bảng 3.13: Số lượng các cặp thoại chứa các phát ngôn ngắt lời trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Việt.
    • Bảng 3.14: Số lượng các cặp thoại chứa các phát ngôn ngắt lời trong các đoạn thoại cùng giới và khác giới bằng tiếng Anh.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các giá trị đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:

Đóng góp về mặt lý luận

  • Góp phần định hình khung lý thuyết cho việc phân tích, đối chiếu và khảo sát thực tiễn hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt từ góc độ dụng học và ngữ dụng tương tác.
  • Làm rõ bản chất đa dạng của hiện tượng ngắt lời trong thực tế giao tiếp, chứng minh ngắt lời không thuần túy là hành vi tiêu cực hay vi phạm quy tắc hội thoại mà còn đảm nhận các chức năng tích cực (cộng tác, hỗ trợ, duy trì tương tác).
  • Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của các sự kiện ngôn ngữ trong giao tiếp liên văn hóa thông qua việc đối chiếu tiếng Việt và tiếng Anh.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Làm sáng tỏ bản chất và chức năng cụ thể của ngắt lời, cung cấp căn cứ thực nghiệm giúp người tham gia giao tiếp nhận thức đúng đắn và sử dụng ngắt lời hiệu quả nhằm đạt mục đích hội thoại và tránh xung đột liên văn hóa.
  • Đóng góp nguồn tư liệu và kết quả khảo sát thực tế vào việc nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp tiếng Việt dưới tác động của nhân tố giới tính.
  • Phản ánh những biến đổi trong lối ứng xử văn hóa - ngôn ngữ của người Việt cũng như những thay đổi trong cách nhìn nhận về vai trò giới trong xã hội đương đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung được văn bản luận án xác định, các hạn chế và hướng nghiên cứu phát triển gồm có:

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu chỉ tập trung vào hiện tượng ngắt lời biểu hiện bằng ngôn từ (bằng lời); các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, điệu bộ) chưa được đưa vào khảo sát.
  • Ngữ liệu giao tiếp nói thực tế chưa thu thập được từ các cuộc thoại đời thường tự nhiên do những rào cản kỹ thuật trong việc ghi âm, mà phải sử dụng ngữ liệu từ các chương trình truyền hình đã qua biên tập hoặc phát sóng.
  • Ngữ liệu giao tiếp viết trích từ tác phẩm văn học chịu sự chi phối nhất định bởi phong cách cá nhân của tác giả và tính chất hư cấu nghệ thuật.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các phương tiện kèm lời và phi lời kết hợp với ngắt lời trong hội thoại trực tiếp.
  • Thu thập ngữ liệu ghi âm tự nhiên từ các bối cảnh giao tiếp sinh hoạt hàng ngày đa dạng hơn trong xã hội.
  • Mở rộng nghiên cứu đối chiếu hiện tượng ngắt lời giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ và nền văn hóa khác ngoài tiếng Anh.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Thuộc các chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học xã hội, Ngữ dụng học, Ngôn ngữ học đối chiếu và Việt ngữ học; có thể tham khảo khung lý thuyết hội thoại, phương pháp phân loại ngắt lời và quy trình xử lý ngữ liệu diễn ngôn.
  • Giảng viên và sinh viên ngành ngoại ngữ (tiếng Anh) và Việt Nam học: Sử dụng các kết quả đối chiếu văn hóa - ngôn ngữ để giảng dạy kỹ năng giao tiếp, phân tích diễn ngôn và giao tiếp liên văn hóa.
  • Người làm công tác truyền thông, truyền hình, ngoại giao, đàm phán: Tham khảo các chiến lược lịch sự âm tính/dương tính và cách thức kiểm soát lượt lời nhằm tối ưu hóa hiệu quả tương tác và giảm thiểu nguy cơ đe dọa thể diện trong giao tiếp chuyên nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về hiện tượng "ngắt lời" và mối quan hệ giữa "ngắt lời" với "gối lời"?

Luận án tiếp nhận định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp (2000), xác định ngắt lời là hiện tượng người nói thứ hai (Sp2) bắt đầu phát ngôn ở vị trí trong lời nói của người thứ nhất (Sp1) không có chỗ ngừng và chưa phải là chỗ kết thúc của câu hoặc cú đoạn. Về mối quan hệ giữa ngắt lời và gối lời (overlap), luận án phân tích các quan điểm lý thuyết khác nhau và đi đến tiếp nhận "gối lời" (ở dạng phần mở đầu lượt lời của người nói sau chập với phần cuối lượt lời đang nói) là một dạng phân loại cụ thể thuộc hiện tượng ngắt lời.

2. Ngữ liệu nghiên cứu của luận án được thu thập từ những nguồn nào với số lượng bao nhiêu?

Ngữ liệu được thu thập từ hai nguồn chính:

  • Nguồn giao tiếp nói: 121 ngắt lời tiếng Việt và 117 ngắt lời tiếng Anh thu thập từ các đoạn song thoại trong các chương trình đàm thoại và trò chơi truyền hình trên Đài Truyền hình Việt Nam.
  • Nguồn giao tiếp viết: 294 ngắt lời tiếng Việt và 292 ngắt lời tiếng Anh trích xuất từ các tác phẩm văn học và truyện ngắn hiện đại. Tổng cộng toàn bộ ngữ liệu khảo sát là 824 trường hợp ngắt lời (415 trường hợp tiếng Việt và 409 trường hợp tiếng Anh).

3. Luận án phân chia chức năng của hiện tượng ngắt lời thành những nhóm nào?

Kế thừa các nghiên cứu quốc tế (Murata, James & Clarke, Kennedy & Camden, Tannen), luận án phân loại chức năng của ngắt lời thành 3 nhóm lớn:

  • Ngắt lời cạnh tranh: Ngắt lời nhằm bày tỏ sự bất đồng, giành quyền làm chủ cuộc thoại, thay đổi chủ đề hoặc xa rời chủ đề.
  • Ngắt lời cộng tác: Ngắt lời nhằm mục đích ủng hộ, giúp đỡ (tìm từ, hoàn thành câu) hoặc làm sáng tỏ vấn đề.
  • Ngắt lời trung tính: Ngắt lời xuất hiện do trục trặc tiếp nhận thông tin (yêu cầu nhắc lại, đính chính) hoặc trong các tình huống khẩn cấp mà không mang tính cạnh tranh hay cộng tác rõ rệt.

4. Sự khác biệt về phong cách giao tiếp giữa người Việt và người Mỹ được luận án tiếp cận qua những khái niệm lý thuyết nào?

Luận án tiếp cận sự khác biệt phong cách hội thoại qua hai khái niệm đối chiếu: phong cách "Speaker – Talk" của người Mỹ (Yamada, 1997), trong đó người nói có trách nhiệm diễn đạt quan điểm rõ ràng, trực tiếp; và phong cách "Listener – Talk" của người Việt (Trần Ngọc Thêm, 2006), trong đó người nói có xu hướng biểu đạt vòng vo, tế nhị, nhường phần suy luận ý định cho người nghe.

5. Những chiến lược lịch sự nào được luận án đề cập nhằm làm giảm nguy cơ đe dọa thể diện khi ngắt lời?

Dựa trên lý thuyết thể diện của Brown & Levinson, ngắt lời là hành vi đe dọa thể diện âm tính của người bị ngắt lời. Để giảm thiểu nguy cơ này, người tham gia giao tiếp có thể áp dụng các chiến lược lịch sự âm tính gồm: sử dụng các yếu tố rào đón (ví dụ: "Tôi có thể ngắt lời bạn một chút được không?"), sử dụng lối nói thẳng trong quan hệ thân mật, hoặc nói lời xin lỗi trước khi ngắt lời (ví dụ: "Xin lỗi vì đã ngắt lời anh nhưng...").


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Hồng Vân là công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp tiếng Việt trên cơ sở đối chiếu với tiếng Anh. Bằng việc kết hợp lý thuyết hội thoại, ngữ dụng học tương tác và ngôn ngữ học xã hội, luận án đã xác lập hệ thống phân loại toàn diện về cấu trúc và chức năng của ngắt lời. Kết quả khảo sát thực nghiệm trên 824 ngữ liệu nói và viết đã làm sáng tỏ tác động của biến số giới tính, vị thế quyền lực và đặc trưng văn hóa đối với hành vi ngắt lời. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và cứ liệu thực tiễn có giá trị cho nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu, Việt ngữ học và giao tiếp liên văn hóa.