CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp trên thế giới Ngắt lời là một hiện tượng thường xuất hiện trong các cuộc thoại và có đóng góp không nhỏ tới thành công của các cuộc giao tiếp. Không những vậy, ngắt lời nếu không được tìm hiểu một cách thấu đáo và sử dụng một cách hợp lý có thể gây ảnh hưởng lớn tới mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia giao tiếp.
Từ lâu, ngắt lời đã được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới chú ý, để tâm nghiên cứu và đưa ra một số kết quả nhất định. Tìm hiểu các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ngắt lời được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu trong lĩnh vực dụng học và ngôn ngữ học ứng dụng ở các góc độ khác nhau, ví dụ như hành vi ngôn ngữ, lý thuyết lịch sự, dụng học tương tác, v. Ngắt lời cũng được xem xét trong các khung cảnh giao tiếp khác nhau và ở các cấp độ phân tích ngôn ngữ đa dạng từ ngôn điệu đến hình thái học, cú pháp và ngữ nghĩa học. Dưới đây chúng tôi điểm theo cách hệ thống hóa các hướng nghiên cứu cơ bản về ngắt lời trên thế giới.
Nghiên cứu hiện tượng ngắt lời theo hướng ngôn ngữ học xã hội Theo hướng ngôn ngữ học xã hội, các nhà ngôn ngữ đã tập trung nghiên cứu hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp dưới sự tác động của hai nhân tố chính là giới và quyền lực. Thứ nhất là hướng nghiên cứu về hiện tượng ngắt lời trong giao tiếp từ góc độ giới. Vấn đề được các nhà ngôn ngữ học quan tâm ở đây là liệu có sự khác biệt về giới khi sử dụng ngắt lời trong giao tiếp và nếu như có sự khác biệt thì yếu tố nào ảnh hưởng đến sự khác biệt này. Có hai khuynh hướng đối lập nhau giữa các nhà ngôn ngữ học khi bàn về vai trò của giới đối với ngắt lời trong giao tiếp.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khuynh hướng thứ nhất phủ nhận vai trò của nhân tố giới đối với ngắt lời trong giao tiếp. Theo khuynh hướng này, nhiều tác giả đã khẳng định không có sự khác biệt nào giữa nam giới và nữ giới khi họ thực hiện ngắt lời trong giao tiếp. Ví dụ: “Gender, language, and influence” (Giới, ngôn ngữ và sự ảnh hưởng) của Carli (1990) [63]; “The effects of sex of subject and sex of partner on interruptions” (Những ảnh hưởng của giới trong chủ đề và vai giao tiếp với ngắt lời) của Dindia (1987) [70]; “Gender, legitimate authority, and leader- subordinate conversations” (Giới, thẩm quyền hợp pháp và các cuộc thoại phụ thuộc vào người dẫn) của Johnson (1994) [92]. Khuynh hướng thứ hai khẳng định vai trò của nhân tố giới đối với ngắt lời trong giao tiếp.
Để trả lời cho câu hỏi thường được đặt ra trong các nghiên cứu về giới là trong hai giới nam và nữ, giới nào thường ngắt lời nhiều hơn và mục đích ngắt lời của mỗi giới có tương đồng với nhau hay không? Các tác giả đã tập trung vào nghiên cứu về cách tiếp cận, môi trường giao tiếp, quan hệ giữa các vai giao tiếp và chủ đề giao tiếp như là những nhân tố tạo nên sự khác biệt này. Trong công trình nghiên cứu “Sex roles, interruptions and silences in conversation” (Vai trò của giới, ngắt lời và im lặng trong hội thoại) của Zimmerman D. (1975) [136], các tác giả đã sử dụng phương pháp trò chuyện theo lối tán gẫu tại khuôn viên Santa Barbara của Đại học California năm 1975 và đã cho ghi âm 31 đoạn thoại giữa hai chủ thể (10 đoạn thoại giữa hai chủ thể là nam, 10 đoạn thoại giữa hai chủ thể là nữ và 11 đoạn thoại giữa hai chủ thể khác giới), đối tượng được ghi âm là những người da trắng, thuộc tầng lớp trung lưu và đều trong độ tuổi từ 20 đến 35, mối quan hệ giữa các chủ thể cũng khá đa dạng từ mức độ thân thiết bạn bè đến mức độ xã giao giữa y tá và bệnh nhân. Các đoạn thoại được ghi âm tại những địa điểm khá phù hợp cho những cuộc nói chuyện gẫu như quán cà phê, hiệu thuốc, trong khuôn viên một trường đại học.
Các chủ đề cũng được lựa chọn một cách ngẫu nhiên như các cuộc tranh cãi giữa những người yêu nhau, giữa những người bạn hay chỉ đơn thuần là một cuộc giao tiếp xã giao giữa các chủ thể lần đầu gặp mặt. Từ kết quả 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân tích các đoạn thoại, Zimmerman D. (1975) [136] đã thấy rằng: trong các cuộc trò chuyện này, nam giới thường có vẻ thích ngắt lời người khác hơn là nữ giới. Họ cho hay trong 11 cuộc trò chuyện giữa nam và nữ, nam giới sử dụng 46 hình thức ngắt lời trong khi ở nữ giới là 2.
Từ mô hình nghiên cứu tương đối nhỏ này, Zimmerman D. đã kết luận rằng “mức độ ngắt lời của nam giới là nhiều hơn nữ giới vì khi đó họ đang thống trị hoặc cố gắng tỏ ra thống trị và họ cho rằng mình là người có uy quyền hơn. Nam giới đặt cho mình quyền lựa chọn các chủ đề cũng như tự thực hiện các chủ đề đó mà không cần nghĩ tới các hệ quả có thể xảy ra. Bên cạnh đó, nam giới cũng từ chối địa vị bình đẳng với nữ giới khi thực hiện các vai giao tiếp với mong muốn thực hiện đầy đủ các lượt thoại của mình” ([136], tr.
Công trình nghiên cứu của Zimmerman D. đã nhận được nhiều sự ủng hộ và được phản ánh trong các nghiên cứu như: “Sex role differences in the relational control dimension of dyadic interaction” (Sự khác biệt về giới từ khía cạnh kiểm soát trong tương tác đôi) của Bohn & Stutman (1983) [56]; “Sex differences in student dominance behavior in female and male professors’ classrooms” (Sự khác biệt giới trong hành vi kiểm soát sinh viên của các giảng viên nam và nữ tại các lớp học) của Brooks (1982) [57], hay “Cultural differences, not deficiencies: An analysis of managerial women’s language” (Khác biệt văn hóa, không phải không có năng lực: Nghiên cứu trường hợp ngôn ngữ của các nữ giám đốc) của Case (1988) [64], v. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu trong các bài viết như “A new look at interruptions” (Một cách nhìn mới về ngắt lời) của Kennedy & Camden (1983) [94] và “Sex differences in interruptions. An experimental reevaluation” (Những khác biệt về giới trong ngắt lời.
Sự tái đánh giá thực nghiệm) của Nohara (1992) [108] lại cho thấy rằng nữ giới ngắt lời nhiều hơn nam giới. Cũng liên quan đến sự ảnh hưởng của nhân tố giới tới ngắt lời, Leaper C. (1994) [97] trong công trình “Exploring the consequences of gender segregation on social relationships” (Tìm hiểu những hậu quả của sự phân biệt 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới tới các mối quan hệ xã hội) đã thực hiện nghiên cứu 43 trường hợp trong các bối cảnh giao tiếp tự nhiên và tại phòng thí nghiệm nhằm trả lời cho câu hỏi đang gây tranh cãi hiện nay là liệu rằng trong hai giới nam và nữ, ai là người ngắt lời bạn thoại của mình nhiều hơn? Tác giả đã phát hiện ra nhân tố tác động đến hiện tượng ngắt lời giữa nam và nữ là sự thân sơ giữa các chủ thể giao tiếp. Với 6 cặp thoại được thực hiện giữa các chủ thể giao tiếp có mức độ quen thân khá lớn và 11 cặp thoại trong đó các chủ thể giao tiếp là những người xa lạ với nhau, kết quả cho thấy những người không có mối quan hệ quen thân sẽ phụ thuộc nhiều hơn các yếu tố chi phối hành vi ứng xử của họ.
Ngược lại, những người có mối quan hệ quen thân như bạn thân, họ hàng sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tính cách của mỗi cá nhân (Drass, 1986 [71]; Wood & Karten, 1986 [133]). (2008) [112] trong công trình nghiên cứu “Gender in Interruptive Turns at Talk-In-Interaction” (Yếu tố giới ở các lượt ngắt lời trong giao tiếp tương tác) đã tiến hành ghi âm một cuộc trò chuyện giữa hai người bạn khác giới. Dữ liệu phân tích từ cuộc hội thoại này cho thấy ngắt lời là một hiện tượng trong giao tiếp do các chủ thể giao tiếp thực hiện nhằm xây dựng các mối quan hệ cũng như để xây dựng phong cách cộng tác trong hội thoại. Tuy nhiên, điều này không thể mang ra áp dụng cho mọi tình huống và cũng không thể trở thành các đặc tính của hội thoại.
Hơn thế nữa, kết quả nghiên cứu cũng ngầm chỉ về vai trò của giới. Ở đây, tác giả không cho rằng nam giới là nhân tố tạo nên quyền lực trong giao tiếp hội thoại mà nhấn mạnh tới các quyền của nữ giới. Từ đó, tác giả đã đề xuất rằng nghiên cứu ngắt lời nên dựa trên các bối cảnh giao tiếp cụ thể chứ không nên xuất phát từ những đặc tính của từng cá nhân. Một kết quả khá bất ngờ được tác giả chỉ ra ở đây là sự kết hợp giữa hai yếu tố giới và quyền lực.
Trong hội thoại, quyền lực không hoàn toàn thuộc về một cá nhân này hay cá nhân khác. Thay vào đó, quyền lực tồn tại và được các chủ thể giao tiếp sử dụng nhằm đạt được mục đích hội thoại, để làm chủ cuộc thoại hay chuyển hướng chủ đề cuộc thoại. Cùng cho rằng bối cảnh giao tiếp có ảnh hưởng trực tiếp đến thành công của hội thoại, Leaper C. (1994) [97] cũng đã 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến hành ghi âm các cuộc hội thoại trong các phòng thí nghiệm, trong văn phòng và cả trong bối cảnh giao tiếp tự nhiên.
Tác giả đã đi đến kết luận như sau: Sự khác biệt về giới khi sử dụng ngắt lời thể hiện rõ trong bối cảnh giao tiếp tự nhiên hơn là tại các phòng nghiên cứu. Tác giả diễn giải rằng yếu tố tạo nên sự khác biệt ở đây là do ngắt lời có thể được coi là một cách hành xử thô bạo trong giao tiếp, có lẽ vì lý do này mà mọi người thường cảm thấy có sự gò bó khi ngắt lời trong các cuộc thoại tiến hành trong các phòng nghiên cứu hơn là trong bối cảnh giao tiếp tự nhiên. Tuy nhiên, do chỉ có ba trong số 17 trường hợp nghiên cứu được tiến hành trong bối cảnh tự nhiên nên bản thân tác giả cũng chưa hoàn toàn chắc chắn với các kết luận của mình. Mặc dù vậy, tác giả cũng đã khẳng định rằng sự khác biệt trong ứng xử có liên quan tới nhân tố giới chịu ảnh hưởng bởi nhân tố cảnh huống hơn là sự khác nhau rõ ràng giữa nam và nữ.