phần mở đầu, kết luận chung và phụ lục, nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương. Tổng quan: Chúng tôi giới thiệu sơ lược về SM và mô hình 3-3-1 cùng các biến thể của mô hình này. Ngoài ra, chúng tôi giới thiệu khái quát về hạt axion và hạt tựa axion (ALP). Đồng thời, chúng tôi trình bày khái quát về dao động meson, các quá trình rã Higgs và rã hiếm của quark t trong SM để sử dụng các kết quả này khi phân tích hiện tượng luận của mô hình ALP331.
Mô hình 3-3-1 với hạt tựa axion (ALP331): Trước tiên, từ sự sắp xếp các hạt trong mô hình và các tương tác Yukawa có thể có trong mô hình, chúng tôi lý giải vì sao cần đưa đối xứng gián đoạn Z11 ⊗ Z2 vào mô hình và sự xuất hiện tự nhiên của đối xứng P Q. Với sự sắp xếp hạt như đã trình bày cùng việc mở rộng đối xứng bằng cách mở rộng đối xứng phần điện - yếu của SM và đưa thêm đối xứng gián đoạn vào mô hình, chúng tôi sẽ nghiên cứu cụ thể các phần về các trường chuẩn, thế Higgs và tương tác Yukawa. Thông qua việc chéo hóa các ma trận trộn khối lượng rút ra từ thế Higgs và số hạng động năng của trường Higgs, chúng tôi xác định trạng thái vật lý và khối lượng tương ứng của các hạt trong mô hình. Từ đó, chúng tôi đồng nhất một số hạt của mô hình ALP331 với các hạt trong SM.
Các hạt mới như ALP (a), hạt giả vô hướng A5 , boson h5 và boson Φ (có thể đóng vai trò lạm phát vũ trụ) xuất hiện trong mô hình ALP331 cũng được chúng tôi xem xét. Tương tác Yukawa được nghiên cứu để xác định các hằng số tương tác giữa các fermion và các boson Higgs trong mô hình ALP331. Từ đó, chúng tôi xác định điều kiện ràng buộc giữa các góc trộn khối lượng trong mô hình ALP331 để có sự bảo toàn vị cho các tương tác của hạt SMLHB với các quark ở gần đúng cây. Chúng tôi cũng phân tích các kết quả chạy số cho phần vô hướng của mô hình ALP331 để tìm điều kiện ràng buộc cho một số hằng số tương tác trong mô hình, đồng thời giải thích vì sao hằng số tương tác của tương tác bốn vô hướng khác nhau phải nhận giá trị rất nhỏ.
Một số hiện tượng luận của phần vô hướng Higgs trong mô hình ALP331: Chúng tôi khảo sát các kênh rã của SMLHB (h) như h → ¯ll, h → b̄b, boson (h5 ) và các kênh rã của quark top t → hq, t → qγ với (q = u, c). So sánh các kết quả chạy số của mô hình ALP331 với các kết quả đo được từ 8 thực nghiệm để tìm giới hạn cho một vài tham số về góc trộn khối lượng hoặc khối lượng của các hạt vô hướng trong mô hình ALP331. Đồng thời, chúng tôi cũng khảo sát dao động của meson và xác định được giới hạn dưới cho khối lượng của một số hạt vô hướng mới trong mô hình ALP331. Tương tác của các ALP (a), hạt giả vô hướng (A5 ), hạt SMLHB (h) và hạt boson Higgs mới (h5 ) cũng được chúng tôi khảo sát sơ bộ bằng cách xác định hằng số tương tác của các tương tác này từ khai triển của thế Higgs.
SM và một số hiện tượng luận của phần vô hướng trong SM 1. Ý tưởng xây dựng SM Trong suốt thế kỉ XX, SM được cho là lý thuyết thành công nhất của Vật lý Hạt cơ bản khi sử dụng nhóm đối xứng SU (3)C mô tả tương tác mạnh trong sắc động học lượng tử (QCD) và mẫu Glashow - Weinberg - Salam (GWS) mô tả tương tác điện - yếu bằng nhóm SU (2)L ⊗ U (1)Y. Trước khi có mẫu GWS, ta biết đến tương tác yếu với hai dòng mang điện [58] là Jµ = Jµhad + jµlep , (1.2) trong đó, dθ = cos θc d + sin θc s , sθ = cos θc s − sin θc d , (1.3) với θc là góc Cabibbo. Tương tác điện từ chỉ có một dòng (1.4) (l) (l) (q) (q) Jµem = ψ̄(x) γµ ψ(x) + ψ̄(x) γµ ψ(x) , với l kí hiệu cho các lepton và q kí hiệu cho các quark.
Trong lý thuyết điện yếu, ta cần ba trường vector gắn liền với ba dòng tương tác trong (1. Chính vì vậy nhóm đối xứng cần dùng để mô tả ba dòng tương tác này phải chứa ít nhất ba vi tử. Nhóm đối xứng đơn giản nhất mà người ta nghĩ tới là 10 nhóm SU (2). Tuy nhiên, tích yếu và điện tích gắn liền với dòng (1.6) nên ba toán tử T+ (t), T− (t) và Q(t) không tạo thành đại số khép kín bởi vì: [T+ , T− ] = 2T3 , (1.7) với T3 được xác định như sau Z † † † (l) (l) (νl ) (νl ) (q) (q) T3 = d~x ψL (x) ψL (x) + ψL (x) ψL (x) + ψL (x) ψL (x) .8) Vì vậy, để đóng kín đại số với các dòng thì người ta phải thêm nhóm U (1) [59, 60].
Do đó, người ta đã sử dụng nhóm đối xứng SU (2)L ⊗ U (1)Y trong lý thuyết điện yếu. Toán tử điện tích khi đó được xác định thông qua tổ hợp tuyến tính của các vi tử Catan, có dạng như biểu thức: Y Q = T3 + .9) 2 với T3 là vi tử chéo của nhóm SU (2)L , Y là siêu tích. Các trường vật chất trong SM được sắp xếp như trong phần A.1 của phụ lục A. Với sự sắp xếp hạt như vậy, ta có thể xác định được qui luật biến đổi của các đa tuyến và đạo hàm hiệp biến dưới phép biến đổi của nhóm đối xứng chuẩn G = SU (3)C ⊗ SU (2)L ⊗ U (1)Y.
Đồng thời, ta có thể viết được biểu thức của Lagrangian toàn phần của SM, phân tích quá trình phá vỡ đối xứng tự phát (SSB) với VEV của trường Higgs trong SM. Từ tương tác Yukawa trong Lagrangian toàn phần, ta xác định được phổ khối lượng của các hạt fermion trong SM. Chi tiết về các nội dung này có thể xem trong phụ lục A. Đối với tương tác giữa các boson chuẩn với các fermion trong SM được xác định từ số hạng động năng của các fermion, luận án quan tâm tới tương 11 tác giữa các fermion với các hạt boson trung hòa.
Lagrangian xác định tương tác của dòng trung hoà có dạng LNC = eJµem Aµ + g cos θw Jµ0 Z µ , (1.10) với e = g sin θw và X Jµem = f¯γµ f, f =li ,ui ,di X Jµ0 = gL (f )f¯γµ (1 − γ5 ) f + gR (f )f¯γµ (1 + γ5 ) f (1.11) , f =li ,νli ,ui ,di với các hằng số gL(R) (f ) được xác định như sau gL(R) (f ) = T3 (fL,R ) − Q(f ) sin θw .12) Trong hệ cơ sở chứa các trạng thái vật lý (f 0 = li0 , νl0i , u0i , d0i ), tương tác của dòng mang điện và dòng trung hoà được viết lại như sau: g µ− LCC = √ ū0 iL (VCKM )ij γ µ d0jL Wµ+ + Jlep Wµ+ + H. 2 X LNC = gL (f 0 )f¯0 γµ (1 − γ5 ) f 0 + gR (f 0 )f¯0 γµ (1 + γ5 ) f 0 Z µ , f 0 =li0 ,νl0 ,u0i ,d0i i X +e f¯0 γµ f 0 Aµ , (1.13) f 0 =li0 ,u0i ,d0i trong đó, các trạng thái chuẩn (f = ui , di ) của các quark được biểu diễn bằng trạng thái vật lý thông qua ma trận VCKM = VLu† VLd , còn trạng thái chuẩn (li , νli ) của các lepton được biểu diễn bằng trạng thái vật lý thông qua ma trận UP N M S và gL,R (f 0 ) = gL,R (f ). Phương trình (1.13) cho thấy tương tác của dòng trung hoà luôn bảo toàn vị và điều này hoàn toàn phù hợp với cơ chế GIM. Tương tự, tương tác của hạt Higg h với các fermion trong SM được xác định từ tương tác Yukawa sau khi thay các trạng thái chuẩn bằng các trạng thái vật lý.
Do đó, tương tác của Higgs với các fermion có dạng như sau: √ X 2mf 0 LHiggs-fermion = − f¯0 L fR0 h + H.14) v 0 f Tương tác trong phương trình (1.14) là các tương tác bảo toàn vị quark và lepton. Tóm lại, SM không chứa dòng trung hoà thay đổi vị (FCNC) lepton và quark. Tất cả dòng tương tác bao gồm dòng vector, dòng giả vector, dòng vô 12 hướng và dòng giả vô hướng đều bảo toàn vị quark và lepton tại gần đúng cây. Trong phần lý thuyết điện yếu, ta nhận thấy ba thế hệ fermion, bốn hạt truyền tương tác điện yếu và hạt Higgs không thoả mãn tính chất của DM.
Còn trong lý thuyết sắc động học lượng tử (QCD) thì các hạt đều có màu nên không thể là DM. Điều này có nghĩa là SM không chứa ứng cử viên của DM. Trong phần QCD, các kết quả thực nghiệm chỉ phù hợp khi các quark được gắn thêm số lượng tử. Số lượng tử mới này phải có 3 giá trị.
Người ta gọi số lượng tử mới này là số lượng tử màu (ta hay gọi tắt là số màu) và các giá trị của số lượng tử đó là ba gam màu cơ bản trong quang học (red, green, blue - đỏ, lục, lam). Chính vì vậy, người ta đã chọn nhóm đối xứng SU (3)C để mô tả tương tác mạnh. Vì đối xứng SU (3)C chứa đựng tám vi tử nên lý thuyết trường chuẩn phải đưa vào tương ứng tám trường chuẩn, gọi là tám gluon. Các gluon này đóng vai trò là hạt truyền tương tác mạnh.
Do không có sự SSB đối với nhóm SU (3)C nên các trường chuẩn của nhóm SU (3)C không có khối lượng. Điều này có nghĩa là các gluon không có khối lượng. Trong thực tế, ta không quan sát được trạng thái màu của các quark nên các quark luôn phải tồn tại sao cho nó ở trạng thái "mù màu". Điều này có nghĩa là thực nghiệm không không được phép vi phạm đối xứng SU (3)C [60].
Do đó, khi nghiên cứu các vấn đề hiện tại của vật lý hạt cơ bản, người ta thường giữ nguyên nhóm đối xứng màu SU (3)C và đề xuất hướng mở rộng đối xứng chuẩn trong phần điện yếu. Như đã đề cập trong phần mở đầu, ngoài vấn đề neutrino không có khối lượng, DM và DE thì SM còn có một số hạn chế khi chưa giải thích được vấn đề về số thế hệ fermion, vấn đề bất đối xứng giữa vật chất và phản vật chất, và một số dị thường về các kết quả đo của thực nghiệm mới.