CHƯƠNG I. Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu. CHƯƠNG II. Phương pháp nghiên cứu.
CHƯƠNG III. Khái quát chung về sản phẩm Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và lý thuyết về hành vi người tiêu dùng. CHƯƠNG IV. Kết quả nghiên cứu.
Kết luận và kiến nghị nhằm cải thiện tình trạng tham gia Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba. 18 CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, kết hợp nghiên cứu xã hội học. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu phục vụ cho nghiên cứu được lấy từ các tài liệu tham khảo và các bảng câu hỏi khảo sát của đối tượng nghiên cứu, bao gồm cả số liệu sơ cấp và thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua: Các báo cáo, các tài liệu nội bộ sẵn có của các Công ty Bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam. Tài liệu, báo cáo của Hiệp Hội bảo hiểm Việt Nam, Cục giám sát và quản lý bảo hiểm, Bộ Giao thông vận tải, … Từ các đề tài, bài báo, tạp chí trong và ngoài nước, các công trình nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông tin qua điều tra xã hội học, phát phiếu điều tra trực tiếp và trực tuyến. Phương pháp phân tích số liệu 2. Phương pháp thông kê mô tả Là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu. Phương pháp so sánh.
So sánh số tuyệt đối: Là kết quả của phép trừ giữa trị số của năm phân tích so với năm gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng và quy mô của các hiện tượng kinh tế. Số tuyệt đối có ý nghĩa quan trọng vì thông qua các số tuyệt đối, ta sẽ có một nhận thức cụ thể về quy mô, khối lượng thực tế của hiện tượng nghiên cứu. Số tuyệt đối chính xác là sự thật khách quan, có sức thuyết phục khôn ai có thể phủ nhận. Tăng (+) Giảm (-) tuyệt đối = Chỉ tiêu thực tế - Chỉ tiêu kế hoạch.
19 So sánh số tương đối Số tương đối động thái: Số tương đối động thái thường được sử dụng rộng rãi để thể hiện biến động về mức độ của hiện tượng nghiên cứu qua một thời gian nào đó. Số tương đối này được tính bằng cách so sánh hai mức độ cùng loại của hiện tượng ở hai thời kì (hay thời điểm) khác nhau và được biểu hiện bằng số lần hay số phần trăm. Mức độ đem ra nghiên cứu được gọi là mức độ kì nghiên cứu, còn mức độ được dùng làm cơ sở cho so sánh được gọi là mức độ kì gốc. Số tương đối kết cấu: Số tương đối kết cấu phản ánh tỷ trọng mỗi bộ phận chiếm trong tổng thể.
Số tương đối này thường thể hiện bằng số phần trăm và được tính bằng cách so sánh mức độ tuyệt đối của từng bộ phận với mức độ của toàn bộ tổng thể. Phương pháp phân tích phương sai ANOVA ANOVA là kỹ thuật thống kê được sử dụng khi chúng ta muốn so sánh số trung bình của nhiều hơn 2 nhóm. Kỹ thuật này chia phương sai của một quan sát (observation) thành 2 phần: phương sai giữa các nhóm (between groups) và phương sai nội nhóm (within group). Do phương sai là độ phân tán tương đối của các quan sát so với số trung bình nên việc phân tích phương sai giúp so sánh các số trung bình dễ dàng.
Mô hình nghiên cứu. Mô hình lý thuyết về hành vi người tiêu dùng Yếu tố Marketing Sản phẩm Đặc tính người mua Giá (cao, thấp) Giới tính Phân phối Tuổi Chiêu thị (khuyến mãi, quảng Cá tính cáo,…) Phản ứng đáp lại Chọn sản phẩm Nghề nghiệp Định thời gian Sở thích Yếu tố khác Chọn nơi bán Văn hoá Thu nhập Quá trình ra quyết 20 Xã hội định Bạn bè, gia đình Mô hình hành vi người tiêu dùng được sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa ba yếu tố: các kích thích (bao gồm yếu tố marketing và yếu tố khác); “hộp đen ý thức” (bao gồm các đặc tính người mua và quá trình quyết định mua) và những phản ứng đáp lại. Các kích thích: là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có thể gây ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng. Chúng được chia thành 2 nhóm chính.
Nhóm 1: Các tác nhân kích thích của marketing: sản phẩm (Product), giá bán (Price), cách thức phân phối (Place) và các hoạt động xúc tiến (Promotion). Các tác nhân này nằm trong khả năng kiểm soát của các doanh nghiệp. Nhóm 2: Các tác nhân kích thích không thuộc quyền kiểm soát tuyệt đối của các doanh nghiệp, bao gồm: môi tường kinh tế, cạnh tranh, chính trị, văn hoá, xã hội,… “Hộp đen ý thức” của người tiêu dùng: là cách gọi bộ não của con người và cơ chế hoạt động của nó trong việc tiếp nhận, xử lý các kích thích và đề xuất các giải pháp đáp ứng trở lại các kích thích. “Hộp đen ý thức” được chia thành hai phần.
Phần thứ nhất – đặc tính của người tiêu dùng. Nó có ảnh hưởng cơ bản đến việc người tiêu dùng sẽ tiếp nhận các kích thích và phản ứng đáp lại các tác nhân đó như thế nào? Phần thứ hai – quá trình quyết định mua của người tiêu dùng, là toàn bộ lộ trình người tiêu dùng thực hiện các hoạt động liên quan đến sự xuất hiện của ước muốn, tìm kiếm thông tin, mua sắm, tiêu dùng và những cảm nhận họ có được khi tiêu dùng sản phầm. Kết quả mua sắm sản phẩm của người tiêu dùng sẽ phụ thuộc vào các bước của lộ trình này có được thực hiện trôi chảy hay không. Những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng: là những phản ứng người tiêu dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi mà ta có thể quan sát được.
Chẳng hạn, hành vi tìm kiếm thông tin về hàng hoá, dịch vụ; lựa chọn hàng hoá, nhãn hiệu, nhà cung ứng; lựa chọn thời gian, địa điểm, khối lượng mua sắm… Dựa trên mô hình này, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành điều tra, khai thác những thông tin, chi tiết về “hộp đen ý thức” của người tiêu dùng của nhóm khách hàng từ 18 - 22 tuổi, những phản ứng đáp lại của họ, căn cứ trên những đặc điểm sẵn có về sản phẩm Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba và đặc trưng về môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội, … 2. Thiết kế nghiên cứu. Vận dụng mô hình lý thuyết về hành vi tiêu dùng với việc phân tích tính đặc thù của dịch vụ Bảo hiểm, xây dựng mô hình nghiên cứu để đánh giá hành vi tiêu 21 dùng của nhóm khách hàng 18 – 22 tuổi tiêu dùng sản phẩm Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba. Từ đó, rút ra đặc điểm hành vi tiêu dùng của nhóm khách hàng này.
Quá trình này được thực hiện qua các bước: Hình 2. Quá trình nghiên cứu hành vi tiêu dùng Vấn đề nghiên cứu: Hành vi tiêu dùng đối với sản phẩm Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với người thứ ba trong nhóm khách hàng 18 – 22 tuổi. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Xác định phạm vi nghiên cứu Lý thuyết về hành vi tiêu dùng Xây dựng mô hình nghiên cứu: Mô hình yếu tố, các yếu tố ảnh hướng tới hành vi tiêu dùng Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu định lượng: Đánh giá thang đo Xác định phương pháp lấy mẫu và nguồn dữ liệu Phương pháp và công cụ phân tích dữ liệu Kết quả phân tích và đánh giá thực trạng Giải pháp 22 2. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát: Thiết kế mẫu điều tra sơ bộ: Được thực hiện thông qua phương pháp định tính với kỹ thuật thảo luận.
Bảng hỏi này dùng để xây dựng thang đo nháp về hành vi tiêu dùng sản phẩm Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba. Thiết kế mẫu chính thức: Thông qua mẫu sơ bộ, điều tra chọn mẫu và kết quả trả lời, kết hợp với ý kiến chuyên gia, từ đó đưa ra phiếu điều tra chính thức gồm 23 câu hỏi 1. Nội dung câu hỏi: Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, bảng câu hỏi sẽ được xây dựng tập trung vào việc khai thác những thông tin chính: Phần 1: Bao gồm những câu hỏi để thu thập các thông tin về cá nhân của người trả lời. Phần 2: Bao gồm những câu hỏi đánh giá chung và các câu hỏi có liên quan đến các yếu tố.
Dạng câu hỏi: Câu hỏi nghiên cứu sẽ được xây dựng và phân nhóm có định hướng, bao gồm cả câu hỏi đóng và mở. Câu hỏi đóng được xây dựng dựa trên những tiêu chí để đo lường và định lượng cụ thể, rõ ràng. Câu hỏi mở được xây dựng dựa trên và phục vụ cho những nhận định và đề xuất của nhóm nghiên cứu về hành vi tiêu dùng sản phẩm và giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận sản phẩm, các cải thiện về sản phẩm, … Thu thập thông tin: Phiếu khảo sát dưới dạng bảng hỏi được thành viên nhóm đem tới tận tay người được điều tra là nhóm khách hàng từ 18 – 22 tuổi hoặc khảo sát trực tuyến thông qua mạng Internet. Thang đo Thang đo được sử dụng chủ yếu trong đề tài là thang đo danh nghĩa, thang đo thái độ đơn giản và thang đo Likert 5 mức độ.
Thang đo danh nghĩa (Nominal scales) Thang đo định danh dùng để mô tả các biến theo sự phân loại của bản chất và sự các nhau của các biến theo định tính chứ không theo định lượng. Tất cả các biến danh nghĩa là định tính. Gán nhãn cho các quan sát, mỗi quan sát có một loại thuộc tính nào đó. 1 Phụ lục abc 23 Ví dụ: Màu tóc (đen, đỏ, hung); Đảng phái chính trị (cộng hoà, dân chủ, độc lập); Giới tính (nam, nữ); Sở thích (thích, không thích); Tình trạng gia đình (độc thân, lập gia đình).
Thang đo định danh có thể sử dụng con số để đo lường các biến danh nghĩa. Ví dụ: Đối với biến giới tính, ta có thể quy ước 1 là nam và 2 là nữ; hoặc đối với biến loại hình doanh nghiệp, ta có thể quy ước 1 là doanh nghiệp nhà nước, 2 là doanh nghiệp tư nhân, 3 là doanh nghiệp nước ngoài.