CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI QUẤY RỐI TÌNH DỤC ĐỐI VỚI NGƯỜI TỪ ĐỦ 16 TUỔI TRỞ LÊN VÀ QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.1 Khái quát về hành vi quấy rối tình dục đối với người từ đủ 16 tuổi 1.1 Khái niệm về quấy rối tình dục và các biểu hiện của hành vi quấy rối tình dục Trong lịch sử, các biểu hiện tương tự của quấy rối tình dục (QRTD) sớm được chú trọng và đề cập trong mục “Phân biệt giới tính” tại khoản VII của Đạo luật Nhân quyền được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1964. Năm 1979, cụm từ “QRTD” lần đầu xuất hiện trong sách “Chuyện QRTD của những nữ công nhân” của tác giả về pháp lý và nữ quyền Catherine MacKinnon.“Tuy nhiên, phạm vi của QRTD trong sách chỉ dùng để chỉ những phụ nữ bị lạm dụng, ép đổi tình dục lấy tiền lương hoặc công việc. Cuốn sách không đề cập đến việc những nam công nhân cũng có thể bị quấy rối. Do đó, cách nhìn nhận này cũng có phần phiến diện2.
Sau đó, định nghĩa về QRTD chính thức được đưa ra bởi Ủy ban về Cơ hội việc làm bình đẳng tại Mỹ vào năm 1980. Theo đó, Ủy ban về Cơ hội việc làm bình đẳng tại Mỹ định nghĩa QRTD là những hành vi (HV) thể hiện tình dục (TD) không nhận được sự đồng tình của người bị lạm dụng, tạo ra một môi trường làm việc thù địch, đáng sợ hoặc xúc phạm3.” Trải qua quá trình phát triển, các tổ chức quốc tế đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về HV QRTD. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), QRTD là một HV dựa trên tình dục và không được hoan nghênh, gây khó chịu cho người 2 Daniela Acquadro Maran, Antonella Varetto, Cristina Civilotti, “Sexual Harassment in the Workplace: Consequences and Perceived Self-Efficacy in Women and Men Witnesses and Non-Witnesses”, Behavioral Sciences Journal, No. 3 Nhật Đăng, “QRTD” có từ bao giờ?”, https://thanhnien.vn/quay-roi-tinh-duc-co-tu-bao-gio-185473323.htm, truy cập ngày 12/3/2023.
1 lOMoARcPSD|17917457 nhận, để QRTD tồn tại thì phải có hai điều kiện trên 4. Trong khi đó, Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu định nghĩa QRTD là HV không mong muốn bằng lời nói, phi lời nói hoặc thể chất có tính chất tình dục, với mục đích gây ảnh hưởng tới nhân phẩm con người, đặc biệt là khi tạo ra một HV đe dọa, thù địch, môi trường xuống cấp, sỉ nhục hoặc xúc phạm 5. Theo Liên Hợp Quốc, QRTD bao gồm các HV về tình dục không được hoan nghênh như đụng chạm thân thể, theo đuổi tán tỉnh, những nhận xét mang tính màu sắc tình dục, thể hiện các văn hóa phẩm khiêu dâm và đòi hỏi tình dục bất kể bằng lời nói hay hành động và HV này có thể làm nhục hoặc ảnh hưởng đến an toàn và sức khỏe, mang tính phân biệt đối xử khi có cơ sở tin rằng việc từ chối sẽ gây ra các bất lợi liên quan đến công việc của người bị quấy rối6. Quan niệm về QRTD“ở mỗi quốc gia là khác nhau do có sự khác biệt về văn hóa, chính trị, kinh tế xã hội.
Theo tổ chức CARE, có đến 10 nhóm HV QRTD từ nhẹ đến nặng, đó là: đùa giỡn, bình luận về tình dục khi người khác không muốn nghe; yêu cầu ai đó gửi hình ảnh khỏa thân hoặc gửi cho người khác những hình ảnh thô tục; ép ai đó hẹn hò với mình hết lần này đến lần khác cho dù người đó đã từ chối; hỏi những câu nhạy cảm về QHTD; dùng những tiếng động hoặc cử chỉ mời gọi; nhìn chằm chằm vào những bộ phận tế nhị; đặt và gọi những cái tên không phù hợp; gạ gẫm QHTD; bắt một người nào đó thực hiện những hành động mà họ không muốn 7.”Hay theo Đạo luật Việc làm và Nhà ở công bằng8 thì QRTD gồm nhiều dạng HV gồm: tuổi tác (40 trở lên), tổ tiên, màu da, tín ngưỡng , từ chối nghỉ phép chăm sóc gia đình và y tế, khuyết tật (tinh thần và thể chất) bao gồm HIV và AIDS, tình trạng 4 ILO, “Sexual Harassment at work”, www.org/wcmsp5/groups/public/---dgreports/--gender/documents/ briefingnote/wcms_738115.pdf, truy cập ngày 17/3/2023. 5 Chỉ thị số 2006/54/EC ngày 05/8/2006 6 “General Recommendation No.html, truy cập ngày 17/3/2023. 7 Phương Thanh, “Nhận diện những HV QRTD”, https://vtv.vn/doi-song/nhan-dien-nhung-hanh-vi-quay-roi- tinh-duc- htm, truy cập ngày 17/3/2023. 8 The Fair Employment and Housing Act (California Government Code Section 12900-12951 & 12927- 12928 & 12955 - 12956.1 & 12960-12976) 2 lOMoARcPSD|17917457 hôn nhân, tình trạng y tế (đặc điểm ung thư và di truyền), nguồn gốc quốc gia, chủng tộc, tôn giáo, giới tính và khuynh hướng tình dục9.
Mặc dù các tổ chức quốc tế trên có tính chất và mục tiêu hoạt động khác nhau, nhưng nhìn chung các hành động của các tổ chức đều hướng tới con người, vì sự bảo vệ và phát triển của con người, do đó, các định nghĩa về QRTD của các tổ chức quốc tế có nét tương đồng. Đó là những HV có tính chất tình dục hướng tới một người mà người đó không hoan nghênh (unwelcome), không mong muốn (unwish), không chấp nhận (unaccept) gây xúc phạm, làm nhục, đe dọa hoặc tạo ra môi trường thù địch. Tại Việt Nam, QRTD là vấn đề khá nhạy cảm, còn nhiều e dè, kín đáo khi được nhắc đến. Điều này một phần xuất phát từ văn hóa của phương Đông nói chung, khi những chuẩn mực đạo đức được xem trọng, coi khinh những ham muốn về vật chất, thể xác, bản năng.
do đó, tình dục luôn được xem là vấn đề riêng tư, kín đáo. Điều này ảnh hưởng đến thái độ của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng với vấn đề tấn công, QRTD. Dưới góc độ ngôn ngữ, “quấy rối” là “làm cho rối loạn, mất sự yên ổn, bình lặng”10. “Tình dục” là “nhu cầu tự nhiên của con người về quan hệ tính giao”11.
“QRTD” là bất cứ lời nói, cử chỉ, hành động hay không hành động nào của người này mà khiến người khác phải nghĩ đến chuyện “dê”, “dâm”, “dục” hoặc nghĩ đến các bộ phận nhạy cảm của cơ thể người không đúng lúc, không đúng nơi, không đúng hoàn cảnh…12. Dưới góc độ pháp lý, hiện nay chưa có khái niệm chung về HV QRTD. Thay vào đó, pháp luật định nghĩa QRTD tại nơi làm việc là HV có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận13. Các trường hợp được xem là QRTD tại nơi làm việc và chỉ có giá trị áp dụng trong môi trường lao động, bao gồm: 9 Nguyên gốc: age (40 and over), ancestry, color, creed, denial of family and medical care leave, disability (mental and physical) including HIV and AIDS, marital status, medical condition (cancer and genetic characteristics), national origin, race, religion, sex, and sexual orientation.
10 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, tr 814. 11 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. 12 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt, Nxb.
13 Khoản 9 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019. 3 lOMoARcPSD|17917457 “a) HV mang tính thể chất gồm hành động, cử chỉ, tiếp xúc, tác động vào cơ thể mang tính tình dục hoặc gợi ý tình dục’ b) QRTD bằng lời nói gồm trực tiếp, qua điện thoại hoặc qua phương tiện điện tử có nội dung tình dục hoặc ngụ ý tình dục; c) QRTD phi lời nói gồm ngôn ngữ cơ thể; trưng bày; miêu tả tài liệu trực quan về tình dục hoặc liên quan đến hoạt động tình dục trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử”14. Trên thực tế, HV quấy rối không chỉ diễn ra ở nơi làm việc mà còn có thể xuất hiện tại bất kỳ đâu, như nơi công cộng, trên môi trường mạng. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là hiện nay chưa có điều khoản nào định nghĩa tổng quan về HV QRTD.
Điều này ít nhiều gây nên những khó khăn nhất định trong việc nhận diện, đấu tranh, phòng, chống HV QRTD khi HV này diễn ra ngoài môi trường lao động. Qua khảo cứu các nghiên cứu học thuật, tác giả nhận thấy tại Việt Nam, QRTD thường được hiểu là thái độ có liên quan đến giới tính của một hay nhiều người nào đó, được thể hiện bằng lời nói, hành động hoặc ngôn ngữ thân thể với một hay nhiều người khác (có thể cùng hoặc khác giới), gây tổn thương đến phẩm giá của họ hoặc tạo ra môi trường có tính dọa dẫm, bất ổn, khó chịu, thù địch, hạ thấp, lăng nhục, xúc phạm họ. QRTD thường được thể hiện dưới ba hình thức là: i. QRTD ngôn ngữ (gồm các nhận xét không phù hợp về mặt xã hội, văn hóa và không được mong muốn, bằng những ngụ ý về tình dục hay những nhận xét về trang phục hay cơ thể của một người nào đó); ii.
QRTD thể chất (liên quan đến các hình thức đụng chạm, những tiếp xúc cơ thể không mong muốn); iii. QRTD phi ngôn ngữ (bao“gồm các hành động không được mong muốn như ngôn ngữ cơ thể khiêu khích, biểu hiện không đứng đắn, cái nhìn gợi tình, nháy mắt liên tục, các cử chỉ của ngón tay…)15.” QRTD có thể xảy ra với bất kỳ ai, không phân biệt giới tính, độ tuổi, vùng miền. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu HV QRTD đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Căn cứ các giải thích trên, có 14 “Khoản 2 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.” 15 Phạm Văn Tư (2022), “Ứng phó với QRTD của trẻ vị thành niên”, Tạp chí Tâm lý học, số 5, tr.
4 lOMoARcPSD|17917457 thể hiểu một cách tổng quan QRTD đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên là HV có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận.2 Sự khác biệt giữa hành vi quấy rối tình dục và quan hệ tình dục hợp pháp Sự khác biệt giữa HV QRTD và QHTD hợp pháp, đặc biệt trong bối cảnh pháp lý của Việt Nam, chủ yếu dựa trên hai yếu tố chính là sự đồng ý và không đồng ý của các bên liên quan. Đồng ý: QHTD hợp pháp. Phải dựa trên sự đồng ý tự nguyện và rõ ràng từ tất cả các bên tham gia. Đồng ý phải một cách tự do, không bị ép buộc, không lừa dối, hoặc dưới tác động của các yếu tố khác như sử dụng chất kích thích, tình trạng tâm thần không ổn định, hoặc áp lực xã hội.
Không đồng ý: QRTD diễn ra khi không có sự đồng ý hoặc đồng ý không rõ ràng từ nạn nhân. Bao gồm cả HV lời nói và vật chất không mong muốn, gây khó chịu, sợ hãi, hoặc làm tổn thương tinh thần người bị hại.