Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 4 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2.1 Khái niệm Thƣơng mại điện tử (E-commerce) Thƣơng mại điện tử đƣợc định nghĩa nhƣ một quá trình mua, bán, chuyển khoản hoặc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, hoặc thông tin bằng cách sử dụng các mạng điện tử nhƣ Internet đƣa ra một định nghĩa về thƣơng mại điện tử trong đó quá trình bán và mua đƣợc hỗ trợ bởi các công cụ điện tử (Keller & Kotler, 2006). Các dạng hình thức chính của thƣơng mại điện tử bao gồm: - Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B) - Doanh nghiệp với Khách hàng (B2C) - Doanh nghiệp với Chính phủ (B2G) - Khách hàng với Khách hàng (C2C) - Thƣơng mại đi động (mobile commerce) Theo Kotler (2003) nhận định rằng: thƣơng mại điện tử nhìn chung có ba dạng nổi bật: - Doanh nghiệp với Khách hàng (B2C): Việc trao đổi giữa các doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng cuối cùng về hàng hoá, dịch vụ và các thông tin về hàng hoá, dịch vụ (hoặc các thông tin về ngƣời tiêu dùng) nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng. Ví dụ điển hình cho hình thức B2C là Amazon. - Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B): là hình thức thƣơng mại điện tử đƣợc thực hiện giữa (1) nhà sản xuất và nhà bán sỉ hoặc (2) giữa nhà bán sỉ và nhà bán lẻ.
Mặc dù có một sự phân định rõ ràng giữa B2B và B2C trong thời gian đầu xuất hiện hình thức thƣơng mại điện tử. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thƣơng mại điện tử, sự khác nhau này ngày càng ít rõ ràng. Điển hình là Dell bán sản phẩm và các dịch vụ cho cả doanh nghiệp và cá nhân ngƣời tiêu dùng. - Khách hàng với Khách hàng (C2C): đây là hình thức thƣơng mại điện tử giữa hai ngƣời tiêu dùng.
Điển hình là eBay, Chotot.2 Hành vi mua sắm trực tuyến (Online shopping behavior) Mua hàng qua mạng đƣợc định nghĩa là hành vi của ngƣời tiêu dùng trong việc mua sắm thông qua các cửa hàng trên mạng hoặc website sử dụng các giao 5 dịch mua hàng trực tuyến (Mosuwe, Dellaert, & Ruyter, 2004). Tƣơng tự, theo Haubl và Trifts (2000) nhận định rằng mua hàng qua mạng là một giao dịch đƣợc thực hiện bởi ngƣời tiêu dùng thông qua giao diện trên máy tính bằng cách máy tính của ngƣời tiêu dùng đƣợc kết nối và có thể tƣơng tác với các cửa hàng số hóa của nhà bán lẻ thông qua mạng máy tính. Hành vi mua hàng qua mạng của ngƣời tiêu dùng đƣợc dựa trên giao diện các website, hình ảnh về sản phẩm đƣợc đăng tải trên mạng (Lohse & Spiller, 1998). Sự phát triển vƣợt bậc của internet và thƣơng mại điện tử đã ảnh hƣởng mạnh mẽ lên cách ngƣời tiêu dùng lƣớt web và thu thập thông tin về sản phẩm.
Hành vi mua hàng qua mạng của ngƣời tiêu dùng cũng khác với cách mua sắm truyền thống. Mua hàng qua mạng thuyết phục khách hàng mua hàng qua việc làm họ cảm nhận đƣợc sự lợi ích thích thú khi họ mua sắm (Alba, Lynch, Weitz, Janiszewki, Lutz, Sawyer, & Wood, 1997). Tóm lại, mua hàng qua mạng là quá trình mua sản phẩm/ dịch vụ đƣợc thực hiện bởi ngƣời tiêu dùng ở các cửa hàng trên mạng thông qua mạng internet.3 Khái niệm hành vi ngƣời tiêu dùng Hành vi ngƣời tiêu dùng đƣợc xem nhƣ những phản ứng cảm xúc, nhận thức hoặc các phản ứng có thể quan sát đƣợc trƣớc những tác động xuyên suốt liên quan đến việc mua và xử lý hàng hóa, dịch vụ của ngƣời tiêu dùng (Kardes, Cronley, & Thomas 2015). Hành vi ngƣời tiêu dùng có thể đƣợc định nghĩa là quá trình ra quyết định và hoạt động thể chất liên quan đến việc mua, đánh giá, sử dụng và thải bỏ hàng hóa và dịch vụ.
Warshaw và Davis (1985) xác định rằng Hành vi ngƣời tiêu dùng giống nhƣ mức độ mà một ngƣời lập ra các kế hoạch một cách sáng suốt để thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi đƣợc chỉ định trong tƣơng lai. Theo tác giả Davis, Bagozzi, và Warshaw (1989) nhận thấy rằng Hành vi ngƣời tiêu dùng sử dụng hệ thống có tƣơng quan đáng kể với việc sử dụng. Bên cạnh đó, Hành vi ngƣời tiêu dùng là yếu tố chính quyết định hành vi ngƣời dùng trong khi các yếu tố khác ảnh hƣởng gián tiếp đến hành vi ngƣời dùng thông qua Hành vi ngƣời tiêu dùng. Hill, Smith, và Mann (1987) cũng chỉ ra rằng thông qua Hành vi ngƣời tiêu dùng có thể dự đoán đƣợc hành động một cách đáng kể.
Tóm lại, Hành vi ngƣời tiêu dùng có thể 6 xem nhƣ mức độ mà một ngƣời có ý thức sẵn lòng đƣa ra quyết định lập kế hoạch dẫn đến thực hiện hành vi.4 Quyết định mua sắm trực tuyến (Online purchase intention) Quyết định mua hàng có thể đƣợc đo bằng mong đợi mua sắm và sự xem xét của ngƣời tiêu dùng về mặt hàng/ dịch vụ đó. Quyết định mua sắm qua mạng sẽ quyết định độ mạnh của khách hàng trong hành vi mua hàng qua mạng (Salisbury, A. Theo Pavlou (2003) khi một khách hàng dự định sẽ dùng các giao dịch trực tuyến để mua sắm, đó đƣợc gọi là quyết định mua hàng trực tuyến. Cụ thể, khi quá trình họ tìm kiếm, trao đổi thông tin và mua hàng đƣợc thực hiện qua mạng internet, đó đƣợc coi là giao dịch qua mạng.
Theo Ajzen (1991) quyết định là một yếu tố tạo động lực, nó thúc đẩy một cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi. Do đó, Delafrooz, Paim, Khatibi, và Ali (2011) cho rằng “quyết định mua sắm trực tuyến là khả năng chắc chắn của ngƣời tiêu dùng sẽ thực hiện việc mua sắm qua Internet”. Theo Solomon (1995) quyết định là một nhân tố thể hiện khả năng thực hiện hành vi trong tƣơng lai của một cá nhân. Quyết định mua sắm trực tuyến đƣợc định nghĩa là dự tính của khách hàng sẽ dùng các kênh trực tuyến nhƣ website, mạng xã hội để mua hàng hóa, dịch vụ.
Trong bối cảnh của thƣơng mại điện tử, quyết định mua sắm trực tuyến đƣợc xem là tình huống khách hàng mong muốn thực hiện một giao dịch thông qua website để sở hữu đƣợc những hàng hóa dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. CÁC LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG 2. Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) Vào năm 1967, Ajzen và Fishbein đã xây dựng và phát triển mở rộng theo thời gian Thuyết hành độnh hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action). Thuyết TRA chỉ ra rằng hành vi mua hàng đƣợc quyết định phần lớn dựa vào ý định hành vi mua hàng (Behavior Intention) và ý định hành vi thể hiện sự mong muốn thực hiện hành vi nào đó của khách hàng trong 1 khoảng thời gian nhất định.
Vì vậy, ý định mua là yếu tố dự đoán tốt nhất hành vi mua của khách hàng. Ý định mua hàng chịu ảnh 7 hƣởng của 2 yếu tố chính là thái độ (attitude) của cá nhân và chuẩn chủ quan (subjective norm). Trong đó, niềm tin và việc đánh giá hài lòng của một khách hàng thể hiện thái độ của họ đối với kết quả của hành vi đó. Hành vi mua sẽ không bị ảnh hƣởng mạnh hoặc trực tiếp bởi thái độ nhƣng thái độ lại có thể giải thích đƣợc các ý định mua.
Ajzen (1991) định nghĩa chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức của những ngƣời ảnh hƣởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi. Niềm tin Thái độ Sự đánh giá Ý định Niềm tin Chuẩn quy chuẩn chủ quan Sự thúc đẩy Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975. Theo Werner (2004) nhận định rằng: yếu tố xã hội là yếu tố tiên quyết trong thực tế để hình thành nên các quyết định mua hàng. Tuy nhiên, Lý thuyết hành động hợp lý TRA đã bỏ qua yếu tố quan trọng này nên họ không thể kiểm soát đƣợc việc dự đoán thực hiện các hành vi của ngƣời mua hàng.
Trong đó, tất cả các nhân tố xung quanh môi trƣờng ảnh hƣởng đến hành vi mua hàng của khách đƣợc gọi là yếu tố xã hội. Thuyết hành vi hoạch định TPB (Theory of Planned Behaviour) Để khác phục nhƣợc điểm trên của Lý thuyết hành động hợp lý-TRA, thuyết hành vi có kế hoạch TPB (Theory of Planned Behaviour) đƣợc Ajzen và Fishbein (1975) ra đời. Lý thuyết này cũng khẳng định rằng hành vi của con ngƣời hoàn toàn 8 do kiểm soát lý trí hay ý định hành vi là yếu tố quan trọng để khách hàng đƣa ra phán đoán cho hành vi của mình, con ngƣời có cơ sở lý do và động lực để lựa chọn các giải pháp phù hợp và tối ƣu cho mình. Ajzen (1991) cũng cho rằng hành vi đƣợc xuất phát từ dự định thực hiện hành vi đó, dự định này là do 3 nhân tố: thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan của cá nhân về hành vi, sự kiểm soát hành vi cảm nhận hay những nhân tố thúc đẩy hành vi.
Thái độ Dự định Hành vi Tiêu chuẩn chủ quan Sự kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2.2: Mô hình hành vi có kế hoạch TPB Nguồn: Ajzen,1991 Thứ nhất, khách hàng sẽ có những thái độ tiêu cực hay tích cực khác nhau đối khi khách hàng thực hiện hành vi. Thứ hai, chuẩn mực chủ quan là một chức năng của niềm tin chuẩn mực, thể hiện nhận thức về sở thích nổi bật cụ thể của ngƣời khác về việc liệu một ngƣời nên hay không nên tham gia vào một hành vi. Thứ ba, Sự kiểm soát hành vi cảm nhận dựa trên niềm tin về khả năng tiếp cận các nguồn lực và cơ hội cần thiết để thực hiện hành vi thành công. Theo TPB, bất kỳ hành động nào một ngƣời thực hiện đều đƣợc hƣớng dẫn bởi ba loại cân nhắc: niềm tin hành vi (niềm tin về hậu quả có thể xảy ra của hành vi đƣợc thực hành), niềm tin chuẩn tắc (niềm tin về những mong đợi chuẩn mực của ngƣời khác) và niềm tin kiểm soát (niềm tin về sự hiện diện của các yếu tố có thể kích hoạt hoặc cản trở việc thực hiện hành vi).
Niềm tin hành vi thƣờng dẫn đến một thái độ thuận lợi hoặc không thuận lợi đối với một hành vi cụ thể, niềm tin chuẩn mực dẫn đến áp lực xã hội nhận thức hoặc các chuẩn mực chủ quan, và niềm tin kiểm soát kích hoạt kiểm soát hành vi nhận thức.