Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn của tác giả Thi Tán Hoài Uyên (Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, năm 2023, do PGS. Bùi Trọng Ngoãn hướng dẫn) tập trung nghiên cứu đề tài: "Các hành động ngôn ngữ thuộc lớp biểu cảm trong một số tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp".
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Trong hơn ba mươi năm qua, ngữ dụng học (Pragmatics) phát triển mạnh mẽ và chứng minh tính hữu hiệu trong việc khám phá mối quan hệ giữa ngôn ngữ và người sử dụng. Tại Việt Nam, lý thuyết về hành động ngôn ngữ (Speech Acts) và lực ngôn trung đã được nhiều nhà nghiên cứu tiếp nhận để giải mã văn bản nghệ thuật, đặc biệt là tác phẩm tự sự. Trong tác phẩm văn học, nhân vật luôn có nhu cầu bộc lộ cảm xúc, thái độ qua các phát ngôn nhằm cá thể hóa tính cách và phát triển tiến trình hội thoại. Việc khảo sát các hành động ngôn ngữ thuộc lớp biểu cảm trong văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp – hiện tượng văn học tiêu biểu cho khuynh hướng đổi mới sau năm 1975 – giúp làm sáng tỏ cấu trúc ngôn từ nghệ thuật, tài năng sáng tạo và phong cách biểu đạt đặc thù của tác giả.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Tác giả xác định ba mục đích nghiên cứu cụ thể:
- Làm sáng tỏ các hành động ngôn ngữ thuộc lớp biểu cảm trong lời người kể chuyện và lời nhân vật ở một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
- Góp phần minh họa, bổ sung cứ liệu thực tiễn cho lý thuyết các hành động ngôn ngữ biểu cảm trong tiếng Việt.
- Nhận diện khả năng tác động của lớp hành động biểu cảm đối với nội dung tác phẩm, nghệ thuật xây dựng nhân vật và cá tính sáng tạo của nhà văn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm biểu cảm (vui thích, khó chịu, mong muốn, than phiền, khen ngợi...) và hiệu lực tác động của chúng trong từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.
- Phạm vi nghiên cứu: Văn bản nghệ thuật của 8 truyện ngắn tiêu biểu trích từ các tập truyện ngắn đã xuất bản của Nguyễn Huy Thiệp, bao gồm: Tướng về hưu, Sang sông, Không có vua, Chảy đi sông ơi, Muối của rừng, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Đời thế mà vui.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu
Khóa luận điểm lại các công trình nền tảng về hành vi ngôn ngữ trên thế giới (J.L. Austin, J. Searle, J. Yule) và quá trình tiếp nhận tại Việt Nam (Đỗ Hữu Châu với Đại cương ngôn ngữ học tập 2 và Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học ngày nay; Nguyễn Đức Dân với Ngữ dụng học tập 1; Đỗ Việt Hùng với giáo trình Ngữ dụng học).
Về tác gia Nguyễn Huy Thiệp, nhiều công trình đã tiếp cận dưới góc độ thi pháp và phong cách học (luận văn của Lê Thị Nguyệt, Nguyễn Thị Tú Anh; ý kiến phê bình của La Khắc Hòa, Văn Tâm). Tuy nhiên, các nghiên cứu ứng dụng ngữ dụng học vào truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trước đó mới dừng lại ở từng truyện đơn lẻ (như bài viết của Nguyễn Thị Hương về lời thoại trong Tướng về hưu) hoặc từng khía cạnh ngôn từ chuyên biệt (như nghiên cứu của Lê Sao Chi về độc thoại). Đề tài này đi sâu khảo sát hệ thống hành động ngôn ngữ thuộc lớp biểu cảm trên diện rộng ngữ liệu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
Khóa luận xây dựng nền tảng lý thuyết liên ngành giữa Ngữ dụng học và Thi pháp học tự sự:
- Hoạt động giao tiếp theo quan điểm ngữ dụng học: Định nghĩa nhân vật giao tiếp (vai nói $Sp_1$, vai nghe $Sp_2$); quan hệ liên nhân trên hai trục quyền uy (ngang vai, không ngang vai: vai trên - vai dưới, vai dưới - vai trên) và trục thân cận (thân mật - xa lạ); khái niệm thoại trường (hoàn cảnh giao tiếp rộng/tiền giả định bách khoa và hoàn cảnh giao tiếp hẹp/nơi chốn, thời gian cụ thể).
- Lý thuyết hội thoại: Cấu trúc hội thoại phân cấp theo trường phái phân tích diễn ngôn và phân tích hội thoại (cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, lượt lời; các dạng đơn thoại, song thoại, tam thoại, đa thoại); các nguyên tắc cộng tác hội thoại của H.P. Grice (lượng, chất, quan hệ, cách thức) và quy tắc điều hành luân phiên lượt lời của C. Kerbrat-Orecchioni.
- Lý thuyết tự sự về chủ thể ngôn ngữ: Phân định ba bộ phận ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự gồm ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ người kể chuyện (người kể chuyện toàn tri, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài theo quan điểm của Gérard Genette, M.H. Abrams, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức) và ngôn ngữ nhân vật (đối thoại, độc thoại nội tâm, lời nửa trực tiếp theo góc nhìn của M. Bakhtin, Nguyễn Thái Hòa).
- Lý thuyết hành động ngôn ngữ của J.L. Austin và John Searle: Hệ thống ba bậc hành động lời nói (tạo lời, tại lời, mượn lời). Khóa luận áp dụng phân loại 5 lớp hành động tại lời theo 12 tiêu chí của Searle:
- Lớp hành động tái hiện (Representatives/Assertives): Hướng khớp ghép lời - hiện thực, thể hiện niềm tin.
- Lớp hành động điều khiển (Directives): Hướng khớp ghép hiện thực - lời, yêu cầu người nghe hành động.
- Lớp hành động cam kết (Commissives): Ràng buộc người nói vào trách nhiệm tương lai.
- Lớp hành động biểu cảm (Expressives): Bày tỏ trạng thái tâm lý của người nói đối với một sự tình (không có hướng khớp ghép chân - ngụy).
- Lớp hành động tuyên bố (Declarations): Làm thay đổi hiện thực bằng chính lời phát ngôn trong ngữ cảnh thể chế.
Mô hình cấu trúc vị từ - tham số của hành động biểu cảm:
Sp1 (Chủ thể biểu cảm) + ĐTNV (Động từ ngữ vi) + Sp2 (Đối tượng tiếp nhận) + NDBC (Nội dung biểu cảm)
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Phân tích cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa của các biểu thức ngữ vi biểu cảm trong ngữ cảnh phát ngôn.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lượng, tính tỷ lệ phần trăm của từng nhóm hành động biểu cảm trong 8 tác phẩm được khảo sát.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: So sánh tần suất xuất hiện và đối chiếu cách thức biểu đạt giữa các kiểu hành động biểu cảm trong lời người kể chuyện và lời nhân vật.
Nguồn dữ liệu
Ngữ liệu được trích xuất trực tiếp từ văn bản nghệ thuật của 8 truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp: Muối của rừng, Tướng về hưu, Sang sông, Không có vua, Chảy đi sông ơi, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Đời thế mà vui.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ khung tri thức lý thuyết làm tiền đề nghiên cứu:
- Trình bày bản chất của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, cơ chế luân phiên lượt lời và quan hệ vị thế xã hội trong thoại trường.
- Làm rõ cấu trúc các đơn vị hội thoại: cuộc thoại (gồm mở thoại, thân thoại, kết thoại), đoạn thoại, cặp thoại và tham thoại (hành vi chủ hướng và hành vi phụ thuộc).
- Phân tích đặc trưng ngôn ngữ tự sự: vai trò định hướng của ngôn ngữ người kể chuyện (toàn tri, tiêu cự hóa ngoại tại) và chức năng cá thể hóa của ngôn ngữ nhân vật trong việc tạo dựng xung đột kịch tính.
- Trình bày chi tiết lý thuyết hành động ngôn ngữ của J. Searle, phân tích 12 tiêu chí phân loại và làm rõ đặc trưng bản thể của lớp hành động biểu cảm (bày tỏ trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề quy chiếu về một thuộc tính/hành động của $Sp_1$ hoặc $Sp_2$).
- Giới thiệu khái quát tác giả Nguyễn Huy Thiệp: phong cách văn xuôi đa thanh, câu văn ngắn gọn, giàu tính triết lý, nghệ thuật giải thiêng và khuynh hướng phơi bày hiện thực đời sống con người thời kỳ Đổi mới.
Chương 2: Khảo sát hành động ngôn ngữ thuộc lớp biểu cảm qua một số tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 2 là trọng tâm khảo sát thực nghiệm của khóa luận. Tác giả xác lập mô hình cấu trúc hình thức khái quát của hành động biểu cảm ở dạng đầy đủ:
$$\text{Sp}_1 + \text{ĐTNV} + \text{Sp}_2 + \text{NDBC}$$
Trong thực tế giao tiếp nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp, ba thành tố $\text{Sp}_1$, $\text{ĐTNV}$ và $\text{Sp}_2$ thường xuyên bị tỉnh lược, tạo nên các biểu thức ngữ vi nguyên cấp hoặc gián tiếp. Khóa luận khảo sát 5 nhóm hành động biểu cảm chính:
-
Hành động vui thích:
- Chiếm 46 biểu thức (~38% tổng số hành vi biểu cảm được khảo sát).
- Ngôn ngữ người kể chuyện: Sử dụng các động từ/tính từ chỉ trạng thái như cười ồ, thích lắm, mỉm cười, vui vẻ, reo hò, vẻ hả hê trong mắt để miêu tả phản ứng tâm lý nhân vật từ điểm nhìn ngôi thứ ba.
- Ngôn ngữ nhân vật: Thể hiện trực tiếp qua lời thoại bộc lộ sự thỏa mãn, phấn khích (như lời Đoài trong Không có vua: "Ông cụ đi rồi. Thật may quá", "Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống... Cuộc sống dù khỉ gió nhưng đẹp tuyệt vời"; hay lời Bường trong Những người thợ xẻ: "Hôm nay tay Thuyết vào đây, hứa sẽ khao quân. Đời lại tươi rồi").
- Kiểu thức biểu thị: Sử dụng động từ ngữ vi chỉ hành vi cười (cười nụ, cười thâm hiểm), nụ cười châm biếm, hoặc niềm vui gắn liền với sự thất bại của đối tượng khác.
-
Hành động khó chịu:
- Chiếm 42 biểu thức (~24,4%).
- Ngôn ngữ người kể chuyện: Miêu tả thái độ, diện mạo nhân vật qua các phát ngôn trần thuật tự biểu thị (cau có, không thích, lời lẽ độc địa, ném gạt tàn, xô vào đạp túi bụi).
- Ngôn ngữ nhân vật: Bộc lộ qua đối thoại phản kháng trực tiếp ("Không được!"), câu hỏi tu từ mang sắc thái bất bình ("Cái anh này! Sao chen vào đây?" trong Sang sông), hoặc các câu cảm thán lặp đi lặp lại ở ngôi thứ nhất trong Con gái thủy thần ("Tôi tức lắm", "Tôi điên người", "Tôi buồn rầu").
- Kiểu thức biểu thị: Kết cấu điều kiện - đối lập ("thì... nhưng", "sao... lại"), động từ chỉ cách thức nói năng (bức bối, làu bàu chửi rủa).
-
Hành động mong muốn:
- Chiếm 26 biểu thức (~12,7%).
- Đặc điểm ngữ vi: Sử dụng các vị từ cầu khiến đặc thù như mong, muốn, xin, cần, giúp với.
- Ngôn ngữ người kể chuyện & nhân vật: Thường đồng nhất qua ngôi kể thứ nhất xưng "tôi" (như lời phân trần của người kể chuyện: "Tôi buộc lòng làm vậy, và xin người đọc nể nang những tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút kém cỏi của tôi"). Trong thoại nhân vật, hành động mong muốn được biểu đạt gián tiếp hoặc trực tiếp khẩn cầu (lời Mây trong Con gái thủy thần: "Anh Chương, xin anh bảo trọng thân mình, dẫu chỉ để cho em đỡ khổ").
- Kiểu thức biểu thị: Chia theo các cấp độ mong muốn cơ bản, cấp thiết, cảm xúc và tối thượng.
-
Hành động than phiền:
- Chiếm 16 biểu thức (~10,9%).
- Đặc điểm: Xuất hiện với tần suất thấp nhất trong 5 nhóm. Tác giả ít dùng động từ ngữ vi chuyên dụng chỉ sự than vãn mà thể hiện qua ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ gắn liền với khẩu ngữ hoặc câu trần thuật đa mệnh đề.
- Dẫn chứng tiêu biểu: Lời trần tình của Sinh trong Không có vua ("Khổ chứ. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm"); lời than thân của Chương trong Con gái thủy thần ("Tôi đói như một con hắc tinh tinh. Tôi đói như một con lợn rừng... Nửa năm tôi ăn độc một thứ rau khoai lang..."); hoặc hình ảnh người kể chuyện trong Những người thợ xẻ ("Bà cụ lái đò vẫn đang rầu rầu kể lể").
-
Hành động khen ngợi:
- Chiếm 19 biểu thức (~14%).
- Đặc điểm: Thể hiện thái độ đánh giá tích cực của người nói đối với hành vi, phẩm chất của đối tượng giao tiếp, góp phần điều chỉnh quan hệ liên cá nhân trong các tình huống đối thoại.
Chương 3: Giá trị biểu đạt của các biểu thức ngôn ngữ thể hiện qua các hành động biểu cảm trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3 tổng kết giá trị nghệ thuật của lớp hành động biểu cảm trên ba phương diện chính:
- Nghệ thuật cá tính hóa nhân vật: Các biểu thức ngữ vi biểu cảm bộc lộ thế giới nội tâm phức tạp, bản năng và tính cách góc cạnh của nhân vật; lột tả sự đối lập giữa vẻ ngoài và tâm lý bên trong, giúp nhân vật hiện lên chân thực, thoát khỏi tính chất ước lệ công thức.
- Nội dung thể hiện trong tác phẩm: Góp phần làm nổi bật những xung đột thế sự gay gắt, sự va đập giữa cái thiện và cái ác, sự tha hóa đạo đức cũng như khát vọng nhân bản trong xã hội chuyển đổi.
- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp: Khẳng định đặc trưng lời văn nén chặt, đa thanh, giàu kịch tính, kết hợp linh hoạt giữa khẩu ngữ đời thường với phát ngôn triết lý sắc lạnh.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng
Khóa luận đã thống kê và phân loại chi tiết các biểu thức ngữ vi biểu cảm trong 8 tác phẩm khảo sát:
| Nhóm hành động biểu cảm |
Số lượng biểu thức |
Tỷ lệ phần trăm (%) |
Tác phẩm có tỷ lệ xuất hiện cao tiêu biểu |
| Vui thích |
46 |
38,0% |
Những người thợ xẻ (52,9%), Muối của rừng (23,1%) |
| Khó chịu |
42 |
24,4% |
Đời thế mà vui (37,5%), Con gái thủy thần (36,0%) |
| Khen ngợi |
19 |
14,0% |
Rải rác trong các đối thoại thế sự |
| Mong muốn |
26 |
12,7% |
Con gái thủy thần (12,0%), Muối của rừng (7,7%) |
| Than phiền |
16 |
10,9% |
Đời thế mà vui (25,0%), Con gái thủy thần (24,0%) |
| Tổng cộng |
149 |
100,0% |
8 truyện ngắn khảo sát |
(Ghi chú: Số liệu tổng hợp từ các bảng thống kê thành phần trong Chương 2 của khóa luận).
Kết quả định tính và đóng góp khoa học
- Xác lập mô hình ngữ vi biểu cảm trong văn xuôi nghệ thuật: Chứng minh mô hình cấu trúc $\text{Sp}_1 + \text{ĐTNV} + \text{Sp}_2 + \text{NDBC}$ có sự biến đổi linh hoạt trong văn bản tự sự; hiện tượng tỉnh lược chủ thể và động từ ngữ vi diễn ra phổ biến nhằm tăng tính chân thực và tốc độ trần thuật.
- Làm rõ đặc trưng phân bố hành động ngôn ngữ: Nhóm hành động vui thích và khó chịu chiếm ưu thế tuyệt đối (tổng cộng trên 62%), phản ánh tính chất xung đột quyết liệt, cảm xúc trực diện của nhân vật trong thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp. Ngược lại, hành động than phiền chiếm tỷ lệ thấp nhất (10,9%), chứng minh nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp thường hành động hoặc phản ứng gay gắt trước nghịch cảnh thay vì bi lụy, than vãn kéo dài.
- Đóng góp về mặt phương pháp luận: Khóa luận cung cấp minh chứng cụ thể khẳng định giá trị ứng dụng của lý thuyết hành vi ngôn ngữ của J. Searle vào việc phân tích thi pháp ngôn ngữ của một tác gia văn học Việt Nam đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Quy mô ngữ liệu: Nghiên cứu mới khảo sát 8 truyện ngắn tiêu biểu, chưa bao quát toàn bộ di sản truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp.
- Phạm vi lớp hành vi: Đề tài chỉ tập trung chuyên sâu vào lớp hành động biểu cảm (Expressives), chưa mở rộng khảo sát đối sánh toàn diện với 4 lớp hành động còn lại theo phân loại của Searle (Tái hiện, Điều khiển, Cam kết, Tuyên bố) trong cùng hệ thống tác phẩm.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ truyện ngắn và các thể loại khác của Nguyễn Huy Thiệp (như mảng kịch nói và tiểu luận phê bình).
- Khảo sát các lớp hành vi ngôn ngữ khác (đặc biệt là hành động điều khiển và hành động tuyên bố) để làm rõ hơn chiến lược giao tiếp quyền lực giữa các nhân vật.
- Thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu phong cách ngữ dụng giữa Nguyễn Huy Thiệp và các cây bút truyện ngắn tiêu biểu cùng thời kỳ Đổi mới (như Bảo Ninh, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam.
- Người nghiên cứu thi pháp học tự sự, phong cách học và ứng dụng ngữ dụng học vào phân tích văn học.
- Giáo viên Ngữ văn phổ thông trong việc khai thác phương diện ngôn ngữ - lời thoại khi giảng dạy tác phẩm văn xuôi hiện đại.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Hệ thống hóa lý thuyết về 5 lớp hành vi ngôn ngữ của Searle và mô hình cấu trúc ngữ vi biểu cảm tiếng Việt.
- Phương pháp kết hợp giữa thống kê định lượng và phân tích diễn ngôn ngữ dụng học trên văn bản tự sự.
- Bảng ngữ liệu trích dẫn và phân tích chi tiết các phát ngôn mang tính biểu cảm trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng khung phân loại hành động ngôn ngữ của tác giả nào làm căn cứ chính?
Khóa luận sử dụng khung phân loại hành động ở lời của nhà ngôn ngữ học John Searle (dựa trên 12 tiêu chí, trong đó 3 tiêu chí cốt lõi là đích ở lời, hướng khớp ghép và trạng thái tâm lý) để chia thành 5 lớp hành động: Tái hiện, Điều khiển, Cam kết, Biểu cảm, Tuyên bố; trong đó đi sâu khảo sát lớp Biểu cảm (Expressives).
2. Mô hình cấu trúc ngữ vi đầy đủ của một hành động biểu cảm được tác giả xác lập như thế nào?
Mô hình cấu trúc gồm 4 thành tố: $\text{Sp}_1$ (chủ thể biểu cảm/người nói) + $\text{ĐTNV}$ (động từ ngữ vi) + $\text{Sp}_2$ (đối tượng tiếp nhận/người nghe) + $\text{NDBC}$ (nội dung biểu cảm). Trong văn bản nghệ thuật, các thành tố $\text{Sp}_1$, $\text{ĐTNV}$, $\text{Sp}_2$ thường xuyên bị tỉnh lược.
3. Nhóm hành động biểu cảm nào chiếm tỷ lệ cao nhất và thấp nhất trong 8 truyện ngắn được khảo sát?
- Nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là Hành động vui thích với 46 biểu thức (chiếm 38,0%).
- Nhóm chiếm tỷ lệ thấp nhất là Hành động than phiền với 16 biểu thức (chiếm 10,9%).
4. Danh sách 8 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp được đưa vào phạm vi khảo sát gồm những tác phẩm nào?
8 truyện ngắn được khảo sát gồm: Tướng về hưu, Sang sông, Không có vua, Chảy đi sông ơi, Muối của rừng, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Đời thế mà vui.
5. Vì sao hành động than phiền lại xuất hiện với tần suất thấp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp?
Theo phân tích của tác giả, hiện thực đời sống và áp lực xã hội trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp chi phối khiến các nhân vật thường biểu lộ cảm xúc dữ dội, trực diện, thẳng thắn hoặc mỉa mai, ít khi bộc lộ sự than vãn hay yếu đuối nội tâm kéo dài qua các động từ ngữ vi than phiền truyền thống.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thi Tán Hoài Uyên đã vận dụng nhất quán lý thuyết hành động ngôn ngữ của John Searle để khảo sát 149 biểu thức ngữ vi biểu cảm trong 8 truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Huy Thiệp. Thông qua sự kết hợp giữa phương pháp thống kê định lượng và phân tích ngữ dụng định tính, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc hình thức, phương thức biểu đạt và hiệu lực của 5 nhóm hành động biểu cảm (vui thích, khó chịu, mong muốn, than phiền, khen ngợi) trong cả lời người kể chuyện lẫn lời nhân vật. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp thêm ngữ liệu thực chứng giá trị cho việc tiếp nhận lý thuyết ngữ dụng học tại Việt Nam mà còn góp phần lý giải chiều sâu phong cách nghệ thuật đa thanh, sắc lạnh và giàu cá tính sáng tạo của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.