Nghiên Cứu Các Hành Động Ngôn Ngữ Biểu Cảm Trong Tác Phẩm Của Nguyễn Huy Thiệp

Chuyên khảo phân tích Các hành động ngôn ngữ thuộc lớp biểu cảm trong một số tác phẩm của nguyễn huy thiệp, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

84
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

Lí do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Bố cục của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Hoạt động giao tiếp theo quan điểm ngữ dụng học

1.2. Lí thuyết hội thoại

1.3. Ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự

1.3.1. Ngôn ngữ tác giả

1.3.2. Ngôn ngữ người kể chuyện

1.3.3. Ngôn ngữ nhân vật

1.4. Hành động ngôn ngữ và hành động ngôn ngữ biểu cảm theo quan điểm của Searle

1.4.1. Hành động ngôn ngữ

1.4.2. Hành động ngôn ngữ biểu cảm theo quan điểm của Searle

1.5. Nguyễn Huy Thiệp và các tác phẩm truyện ngắn

1.5.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Huy Thiệp

1.5.2. Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ THUỘC LỚP BIỂU CẢM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

2.1. Phân loại và miêu tả các hành động ngôn ngữ thuộc lớp biểu cảm

2.2. Hành động ngôn ngữ thuộc lớp biểu cảm trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

2.2.1. Hành động vui thích

2.2.2. Biểu thức ngôn ngữ biểu thị

2.2.3. Kiểu thức biểu thị sự vui thích

2.2.4. Hành động khó chịu

2.2.5. Biểu thức ngôn ngữ biểu thị

2.2.6. Kiểu thức biểu thị sự khó chịu

2.2.7. Hành động mong muốn

2.2.8. Biểu thức ngôn ngữ biểu thị

2.2.9. Kiểu thức biểu thị

2.2.10. Hành động than phiền

2.2.11. Biểu thức ngôn ngữ biểu thị

2.2.12. Kiểu thức biểu thị

2.2.13. Hành động khen ngợi

2.2.14. Biểu thức ngôn ngữ biểu thị

2.2.15. Kiểu thức biểu thị

3. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỂ HIỆN QUA CÁC HÀNH ĐỘNG BIỂU CẢM TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP

3.1. Khả năng tác động của lớp hành động biểu cảm thể hiện qua biểu thức ngôn ngữ đối với nghệ thuật cá tính hóa nhân vật

3.2. Khả năng tác động của lớp hành động biểu cảm thể hiện qua biểu thức ngôn ngữ đối với nội dung thể hiện trong tác phẩm

3.3. Khả năng tác động của lớp hành vi biểu cảm thể hiện qua biểu thức ngôn ngữ đối với phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CAM ĐOAN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Biểu Cảm Thiệp

Nghiên cứu hành động ngôn ngữ biểu cảm trong văn học, đặc biệt trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, đang thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích các biểu thức ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện cảm xúc và thái độ của nhân vật, góp phần làm nổi bật phong cách Nguyễn Huy Thiệp độc đáo. Ngữ dụng học, với việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lời nói và người sử dụng, cung cấp công cụ hiệu quả để khám phá các khía cạnh như hoạt động giao tiếp, hành động ngôn ngữ, và giá trị biểu cảm. Nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ ngôn ngữ biểu cảm trong các tác phẩm văn học của Nguyễn Huy Thiệp, mang lại cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật sử dụng ngôn từ của ông. Các nhân vật trong tác phẩm thường bày tỏ tình cảm thông qua diễn ngôn của mình, điều này giúp biểu thị tính cá thể hóa và sự phát triển của hội thoại. Đi sâu vào tìm hiểu hành động ngôn ngữ biểu cảm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hiệu quả giao tiếp và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp.

1.1. Vai Trò Của Hành Động Ngôn Ngữ Biểu Cảm Trong Hội Thoại

Trong hội thoại, hành động ngôn ngữ biểu cảm đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc, thái độ của người nói, góp phần tạo nên sự sinh động và chân thực cho cuộc trò chuyện. Các nhân vật giao tiếp có nhu cầu bày tỏ tình cảm thông qua diễn ngôn của mình, điều này có vai trò biểu thị tính cá thể hóa và sự phát triển của hội thoại trong tác phẩm văn học.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Ngôn Ngữ Biểu Cảm

Nghiên cứu ngôn ngữ biểu cảm giúp hiểu sâu hơn về cách thức con người sử dụng ngôn từ để truyền tải cảm xúc, thái độ và quan điểm cá nhân. Nó cũng góp phần làm sáng tỏ phong cách ngôn ngữ của các nhà văn, đặc biệt là những người có giọng văn độc đáo và cá tính như Nguyễn Huy Thiệp.

II. Vấn Đề Phân Tích Ngôn Ngữ Trần Tục Trong Nguyễn Huy Thiệp

Một trong những thách thức khi nghiên cứu hành động ngôn ngữ biểu cảm trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp là sự hiện diện của ngôn ngữ đời thườngngôn ngữ trần tục. Việc sử dụng ngôn ngữ này đôi khi gây khó khăn cho việc giải mã và đánh giá chính xác giá trị biểu cảm của các phát ngôn. Cần có sự phân tích tỉ mỉ và sâu sắc để hiểu được ý nghĩa thực sự đằng sau những lời nói có vẻ thô ráp, đời thường, đồng thời làm nổi bật sự trần trụi trong ngôn ngữ Nguyễn Huy Thiệp – một yếu tố làm nên sự khác biệt của ông. Bên cạnh đó, việc làm rõ ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm cũng là một vấn đề quan trọng. Lời thoại nhân vật Nguyễn Huy Thiệp thường rất đời, rất thật, phản ánh đúng tính cách và hoàn cảnh của họ. Nghiên cứu cần làm rõ sự khác biệt giữa ngôn ngữ tác giảngôn ngữ nhân vật để hiểu rõ hơn về ý đồ nghệ thuật của nhà văn.

2.1. Khó Khăn Trong Giải Mã Ngôn Ngữ Trần Tục

Ngôn ngữ trần tục đôi khi chứa đựng những ý nghĩa ẩn sâu, đòi hỏi người đọc phải có kiến thức văn hóa và xã hội nhất định để có thể hiểu đúng và đầy đủ. Việc giải mã ngôn ngữ trần tục trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp đòi hỏi sự tinh tế và am hiểu sâu sắc về bối cảnh xã hội Việt Nam đương thời.

2.2. Phân Biệt Ngôn Ngữ Tác Giả Và Ngôn Ngữ Nhân Vật

Việc phân biệt giữa ngôn ngữ tác giảngôn ngữ nhân vật giúp hiểu rõ hơn về quan điểm và thái độ của nhà văn đối với các vấn đề xã hội. Đồng thời, nó cũng giúp đánh giá chính xác hơn vai trò của ngôn ngữ nhân vật trong việc xây dựng hình tượng và khắc họa tính cách.

III. Phương Pháp Phân Tích Ngữ Dụng Hành Động Ngôn Ngữ Thiệp

Phương pháp phân tích ngữ dụng học là công cụ hữu hiệu để nghiên cứu hành động ngôn ngữ biểu cảm trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp. Phương pháp này tập trung vào việc xem xét ngôn ngữ trong bối cảnh sử dụng thực tế, chú trọng đến tác động của ngôn ngữ đến độc giảmục đích giao tiếp của người nói. Để phân tích hiệu quả, cần kết hợp với các phương pháp khác như phân tích văn bản, phân tích diễn ngôn và phân tích tâm lý nhân vật. Đặc biệt, việc xác định chính xác các biểu thức ngôn ngữ thể hiện cảm xúc và thái độ là rất quan trọng. Cần chú ý đến cả ngôn ngữ hình thểngữ cảnh giao tiếp để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về hành động ngôn ngữ của nhân vật.

3.1. Áp Dụng Lý Thuyết Hành Động Ngôn Ngữ Của Searle

Lý thuyết hành động ngôn ngữ của Searle cung cấp khung phân tích chi tiết về các loại hành động ngôn ngữ, bao gồm cả hành động ngôn ngữ biểu cảm. Việc áp dụng lý thuyết này giúp xác định rõ mục đích và tác động của ngôn ngữ đến người nghe, đồng thời làm sáng tỏ ý đồ nghệ thuật của tác giả.

3.2. Phân Tích Ngữ Cảnh Giao Tiếp

Việc phân tích ngữ cảnh giao tiếp là rất quan trọng để hiểu đúng ý nghĩa của hành động ngôn ngữ. Cần xem xét các yếu tố như quan hệ giữa người nói và người nghe, bối cảnh xã hội, văn hóa và mục đích giao tiếp để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc.

3.3. Nghiên cứu Văn Hóa và Ngôn Ngữ trong Tác Phẩm

Việc nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ trong tác phẩm là vô cùng quan trọng. Bởi lẽ, văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nghiên cứu sâu hơn về văn hóa và ngôn ngữ sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về nhân vật và nội dung tác phẩm.

IV. Khám Phá Giá Trị Biểu Đạt Ngôn Ngữ Nguyễn Huy Thiệp

Nghiên cứu hành động ngôn ngữ biểu cảm trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp cho thấy giá trị biểu cảm độc đáo của văn phong Nguyễn Huy Thiệp. Ngôn ngữ của ông vừa chân thực, đời thường, vừa giàu sức gợi, có khả năng lay động cảm xúc của người đọc. Các biểu thức ngôn ngữ được sử dụng một cách sáng tạo, tinh tế, góp phần khắc họa tính cách nhân vật và phản ánh hiện thực xã hội một cách sâu sắc. Đặc biệt, sự trần trụi trong ngôn ngữ không chỉ là yếu tố gây sốc mà còn là phương tiện để nhà văn phơi bày những góc khuất của cuộc sống và những bi kịch của con người. Qua đó, làm nổi bật góc nhìn hiện thực trong tác phẩm và những trăn trở về số phận con người.

4.1. Tác Động Của Ngôn Ngữ Đến Cá Tính Hóa Nhân Vật

Hành động ngôn ngữ biểu cảm góp phần quan trọng trong việc xây dựng hình tượng nhân vật. Cách nhân vật sử dụng ngôn ngữ, từ giọng điệu đến từ ngữ, thể hiện rõ tính cách, trình độ văn hóa và hoàn cảnh sống của họ. Tạo nên những nhân vật có cá tính độc đáo và khó quên.

4.2. Phản Ánh Hiện Thực Qua Ngôn Ngữ Trần Trụi

Ngôn ngữ trần trụi trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp là phương tiện để phản ánh hiện thực xã hội một cách chân thực và không né tránh. Nó giúp người đọc nhìn thấy những mặt tối của cuộc sống, những bất công và những bi kịch của con người. Từ đó, khơi gợi suy nghĩ và cảm xúc.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Ngôn Ngữ Nhân Vật Trong Tác Phẩm

Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ biểu cảm trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp có thể ứng dụng vào việc giảng dạy và nghiên cứu văn học, đặc biệt là trong việc phân tích nhân vật và phong cách của nhà văn. Nó cũng giúp người đọc hiểu sâu hơn về tác động của ngôn ngữ đến độc giảvăn hóa và ngôn ngữ trong tác phẩm. Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng để biên soạn tài liệu giảng dạy, bài viết phê bình và các công trình nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Huy Thiệp và ngôn ngữ văn chương của ông. Ngoài ra, nó còn giúp cho các nhà văn trẻ học hỏi thủ pháp nghệ thuật ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo và hiệu quả.

5.1. Ứng Dụng Trong Giảng Dạy Và Phân Tích Văn Học

Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ biểu cảm cung cấp công cụ phân tích hiệu quả, giúp giảng viên và sinh viên khám phá sâu hơn về ý nghĩa và giá trị của tác phẩm. Nó cũng giúp phát triển kỹ năng đọc hiểu và phê bình văn học.

5.2. Hỗ Trợ Nghiên Cứu Phong Cách Ngôn Ngữ Nguyễn Huy Thiệp

Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm độc đáo trong phong cách ngôn ngữ Nguyễn Huy Thiệp, từ đó giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về sự nghiệp văn chương của ông.

VI. Kết Luận Tương Lai Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Thiệp

Nghiên cứu hành động ngôn ngữ biểu cảm trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Trong tương lai, có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tác phẩm khác của Nguyễn Huy Thiệp hoặc so sánh với các nhà văn khác để làm nổi bật hơn đặc điểm độc đáo trong phong cách ngôn ngữ của ông. Đồng thời, cần chú trọng đến việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau để có cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn về ngôn ngữ phản ánh hiện thực trong tác phẩm văn học. Nghiên cứu cũng cần chú trọng đến tác động của ngôn ngữ đến cảm xúc và nhận thức của độc giả, góp phần làm sâu sắc thêm sự hiểu biết về Nguyễn Huy Thiệp và ngôn ngữ của ông.

6.1. Mở Rộng Phạm Vi Nghiên Cứu

Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tác phẩm khác của Nguyễn Huy Thiệp hoặc so sánh với các nhà văn khác sẽ giúp làm nổi bật hơn những đặc điểm độc đáo trong phong cách ngôn ngữ của ông.

6.2. Kết Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Đa Dạng

Kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, như phân tích văn hóa, xã hội và tâm lý, sẽ giúp có cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn về ngôn ngữ trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu còn thực hiện vai trò thương lượng hội thoại như thống nhất chủ đề, thăm dò đối phương, thử giọng điệu hội thoại… Thông thường, trong đoạn mở thoại, người ta thường tránh sự xúc phạm thể diện của người nghe, chuẩn bị một hòa khí cho cuộc thoại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, người mở thoại cố tình xúc phạm thể diện nhằm một mục đích hội thoại nào đó. Đoạn thoại kết thúc thường có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ, để các thoại nhân cảm ơn, hứa hẹn, chúc tụng… Theo nguyên tắc lịch sự, cần tránh kết thúc đơn phương, đột ngột, trừ trong những tình huống đặc biệt. 14 - Cặp thoại: “cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên”.

Theo Nguyễn Đức Dân, “Trong một lượt lời liên kết có thể gồm nhiều phát ngôn với những chức năng và mục đích khác nhau, có liên kết chặt chẽ với nhau. Mỗi lượt lời có những chức năng hội thoại khác nhau. Người này nói và người kia lặp lại. Hai lượt lời có liên quan trực tiếp và đứng kề nhau làm nên một cặp thoại”.

Nguyễn Đức Dân khẳng định, “cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ tương thích về chức năng, hai vế của cặp thoại có thể liền kề nhau nhưng cũng có thể cách xa nhau”. Như vậy, các tác giả trên đều quan niệm cặp thoại là do hai phát ngôn/ lượt lời có quan hệ trực tiếp và đứng kề cận nhau tạo nên. Trong hội thoại, cặp thoại là đơn vị quan trọng nhất. Xét về cấu trúc, cặp thoại thường do hai tham thoại tạo nên, được gọi là cặp thoại hai tham thoại.

Trong cặp thoại này, mỗi tham thoại tương ứng với một chức năng cụ thể. Tham thoại thứ nhất gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai được gọi là tham thoại hồi đáp. Ở cặp thoại này, lượt lời trùng khớp với tham thoại, tham thoại trùng khớp với hành động ngôn ngữ. Cặp thoại hai tham thoại là dạng đơn giản, dễ nhận biết nhất trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ.

Các cặp thoại cũng không phải được nói ra một cách ngẫu nhiên, tùy tiện. Chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy tắc chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại. Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai. Khi nói một điều, người ta dự đoán, chờ đợi một điều khác sẽ xảy ra.

Sau khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ, người ta chờ đợi một hành vi ngôn ngữ đáp ứng. Nghĩa là, hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau. Lượt lời là đơn vị cơ bản của hội thoại. Đó là một lần nói xong của một người trong khi những người khác không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo nói.

Dựa vào số lượng các nhân vật tham gia cuộc thoại, có thể phân chia ra thành các kiểu thoại như sau: - Đơn thoại: là lời thoại phát ra từ phía người nói hướng đến người nghe nhưng không nhận được sự hồi đáp của người nghe. Người nghe phản hồi bằng hành động hay thực hiện bằng cử chỉ không được tác giả mô tả trực tiếp. Biểu hiện của dạng thức này thể hiện rõ nhất là lời độc thoại nội tâm. - Song thoại: là cuộc thoại gồm có hai nhân vật giao tiếp với nhau theo quan hệ hai chiều.

Đó là cuộc giao tiếp xảy ra tương tác giữa người nói và người nghe, hay là cuộc giao tiếp diễn ra hành vi trao lời và đáp lời. Lời của người trao hướng đến người nghe và có sự đối đáp bằng hành vi ngôn ngữ. - Tam thoại: là cuộc giao tiếp trong đó có ba người tham gia với ba vai khác nhau. 15 - Đa thoại: là cuộc thoại có nhiều người tham gia.

Lời của nhiều nhân vật đan xen vào nhau trong một ngữ cảnh hội thoại cụ thể. Giao tiếp văn học là một hoạt động giao tiếp đặc biệt, ở đó chỉ diễn ra quá trình phát ngôn (của nhà văn) mà không ghi nhận những phản ứng của người đọc vào trong diễn ngôn văn học, vì thế hành động ngôn ngữ đặc trưng, phổ biến của người trần thuật là hành động kể - trần thuật (hành động này được người trần thuật thực hiện nhằm thuật lại, tái hiện sự việc). Văn bản trần thuật có thể được coi như là một câu trần thuật được mở rộng nhằm kể lại các sự kiện cho người tiếp nhận trần thuật biết, đồng cảm và đánh giá cùng mình. Ngoài ra, còn có thể tìm thấy trong lời người trần thuật các kiểu hành động ngôn ngữ khác, với tần số xuất hiện ít hơn như: hành động miêu tả (hành động giúp người đọc hình dung được các sự việc, chi tiết, nhân vật, thời gian, không gian của câu chuyện), hành động biểu cảm (hành động bày tỏ trạng thái tâm lí của người kể chuyện, làm cho câu chuyện giàu cảm xúc), hành động bình luận, đánh giá (giúp người đọc thấy rõ thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của người trần thuật với các sự việc, nhân vật trong câu chuyện).

Các kiểu hành động ngôn ngữ của người trần thuật trong truyện kể có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó, kể (trần thuật) là hành động chủ đạo, các hành động khác (miêu tả, biểu cảm, bình luận, đánh giá) có vai trò hỗ trợ, phối hợp để tạo điểm nhấn trong diễn ngôn truyện kể. Ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự Văn chương là nghệ thuật ngôn từ. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là phong cách ngôn ngữ khai thác triệt để toàn bộ mội phương tiện ngôn ngữ của dân tộc và thậm chí là ngôn ngữ vay mượn để thỏa mãn mục đích sáng tạo của mình. Vì vậy, lí luận văn học xem ngôn ngữ tác giả chính là toàn bộ ngôn ngữ làm nên văn bản nghệ thuật của tác phẩm.

Tuy nhiên, nếu đi vào một tác phẩm tự sự cụ thể thì người ta sẽ chia thành ba chủ thể ngôn ngữ trong tác phẩm. Trong đó, đầu tiên sẽ kể đến ngôn ngữ người kể chuyện. Có thể là một nhân vật ở ngôi thứ ba hoặc là một nhân vật tham gia vào câu chuyện được mang vai người kể chuyện. Bộ phận thứ hai là ngôn ngữ của các nhân vật.

Trong đó, có ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật. Đây là đối tượng rất cần được phân tích bằng lí thuyết hội thoại của ngữ dụng học. 16 Dạng thức hai của ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ độc thoại. Ngôn ngữ độc thoại đó có khi độc thoại bằng lời, độc thoại nội tâm.

Hoặc có thể có một cách phân chia khác bao gồm: ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ của nhân vật. Ngôn ngữ tác giả Ngôn ngữ tác giả chính là ngôn ngữ của người viết của chủ thể sáng tạo ra tác phẩm. a) Ngôn ngữ mang "cái tôi" trần thuật của tác giả Ở kiểu ngôn ngữ này, tác giả xưng "tôi" khi trình bày hay bàn luận về các vấn đề, sự kiện, hiện tượng,. được đề cập trong tác phẩm.

"Cái tôi" này thường là "cái tôi" nhân chứng cho nên nó có tác dụng làm tăng độ xác thực, độ tin cậy của thông tin. Chính việc đàm thoại trực tiếp với độc giả từ danh tính của "cái tôi" cá nhân đầy cụ thể đã giúp cho tác giả thể hiện một cách tự do thái độ, tình cảm của mình. Vì lẽ đó, ngôn ngữ mang "cái tôi" trần thuật luôn ngập tràn cảm xúc cá nhân. Ngôn ngữ mang cái tôi trần thuật của tác giả thường giàu tính biểu cảm nên rất sinh động, dễ đi vào lòng người.

Nó có thể gặp trong nhiều thể loại, nhưng phổ biến hơn cả là phóng sự, bút ký, ghi chép, v. b) Ngôn ngữ không mang "cái tôi" trần thuật của tác giả Dễ dàng nhận thấy, ngôn ngữ sự kiện khá "khô khan", vì thế, nó chủ yếu gặp trong thể loại tin, là nơi sự hấp dẫn nằm ở ngay trong sự kiện chứ không phải ở cách thức biểu đạt bằng ngôn từ. Ngôn ngữ người kể chuyện Theo Trần Đình Sử “ Người kể chuyện (người trần thuật) là một người do nhà văn tạo ra để thực hiện hành vi trần thuật”[tr 60]. (Trần Đình Sử chủ biên, Giáo trình lí luận văn học tập II, Nxb Đại học Sư phạm.

Người kể chuyện trong văn bản ẩn mình trong dòng chữ. Có thể kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Người kể chuyện có thể kể khi họ cảm thấy như người trong cuộc hay chứng kiến toàn cảnh sự việc ấy. Do vậy về căn bản người kể chuyện đều kể theo ngôi thứ nhất.

Cái gọi là ngôi thứ ba thực chất là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức hoặc đã được ý thức nhưng cố ý giấu mình. Người kể ngôi thứ nhất xưng “tôi” là nhân vật trong truyện chứng kiến các sự việc diễn ra. Ngôi thứ ba cho phép người kể có thể biết tất cả những gì họ biết còn ngôi thứ nhất thì chỉ được kể những gì mà khả năng của một người cụ thể biết được. Theo Hà Minh Đức: “ Ngôn ngữ kể chuyện của tác phẩm không thể thiếu tính 17 biểu cảm bởi văn học luôn tác động tới cuộc sống bằng con người tình cảm”[tr,149].

* Người kể chuyện toàn tri: Kể chuyện từ ngôi thứ ba với người kể chuyện mang điểm nhìn toàn tri vẫn là hình thức trần thuật phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, trong sự đổi mới nghệ thuật trần thuật, tình huống trần thuật này đã được biến hóa linh hoạt cho phù hợp với tư duy tiểu thuyết thời đại mới. Nhiều tác phẩm về cơ bản được kể từ người kể chuyện toàn tri, nhưng nhà văn đã khéo léo dịch chuyển điểm nhìn, thay đổi giọng điệu. Sự biến đổi linh hoạt này đặc biệt được thể hiện rõ ở tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết có tính chất tự truyện.

Bằng cách khước từ lối tự sự tiêu cự zero với một điểm nhìn duy nhất, liên tục chuyển đổi điểm nhìn, phối hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn, các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử đã rút ngắn khoảng cách giữa lịch s ử và hiện đại, xử lí ổn thỏa mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu. Cũng như thế, chọn kiểu trần thuật từ ngôi ba với người kể chuyện toàn tri như một hình thức đánh tráo ngôi kể, song lại liên tục hoán đổi điểm nhìn, đặt điểm nhìn vào nhân vật, một mặt khoảng cách giữa tác giả và nhân vật vẫn được xác lập, mặc khác ở người kể chuyện vẫn thấp thoáng bóng dáng của nhà văn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Biểu Cảm Trong Tác Phẩm Nguyễn Huy Thiệp" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách mà ngôn ngữ biểu cảm được sử dụng trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Tác giả phân tích các hành động ngôn ngữ và cách chúng thể hiện cảm xúc, tâm tư của nhân vật, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về chiều sâu tâm lý và nghệ thuật kể chuyện của tác giả.

Bằng việc khám phá các khía cạnh này, tài liệu không chỉ cung cấp kiến thức về ngôn ngữ mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn học Việt Nam. Để mở rộng thêm kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án đặc điểm của từ ngữ lóng trên tư liệu của tiếng hán và tiếng việt, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích thú vị về ngôn ngữ trong các bối cảnh khác nhau.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quá trình thụ đắc từ li hợp trong tiếng hán hiện đại của sinh viên việt nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh học tập. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ phương pháp tiếp cận văn bản văn học trong thực tế giảng dạy tiếng pháp tại việt nam, để có cái nhìn tổng quát hơn về phương pháp giảng dạy ngôn ngữ và văn học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và văn hóa.