mở đầu còn thực hiện vai trò thương lượng hội thoại như thống nhất chủ đề, thăm dò đối phương, thử giọng điệu hội thoại… Thông thường, trong đoạn mở thoại, người ta thường tránh sự xúc phạm thể diện của người nghe, chuẩn bị một hòa khí cho cuộc thoại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, người mở thoại cố tình xúc phạm thể diện nhằm một mục đích hội thoại nào đó. Đoạn thoại kết thúc thường có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ, để các thoại nhân cảm ơn, hứa hẹn, chúc tụng… Theo nguyên tắc lịch sự, cần tránh kết thúc đơn phương, đột ngột, trừ trong những tình huống đặc biệt. 14 - Cặp thoại: “cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên”.
Theo Nguyễn Đức Dân, “Trong một lượt lời liên kết có thể gồm nhiều phát ngôn với những chức năng và mục đích khác nhau, có liên kết chặt chẽ với nhau. Mỗi lượt lời có những chức năng hội thoại khác nhau. Người này nói và người kia lặp lại. Hai lượt lời có liên quan trực tiếp và đứng kề nhau làm nên một cặp thoại”.
Nguyễn Đức Dân khẳng định, “cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ tương thích về chức năng, hai vế của cặp thoại có thể liền kề nhau nhưng cũng có thể cách xa nhau”. Như vậy, các tác giả trên đều quan niệm cặp thoại là do hai phát ngôn/ lượt lời có quan hệ trực tiếp và đứng kề cận nhau tạo nên. Trong hội thoại, cặp thoại là đơn vị quan trọng nhất. Xét về cấu trúc, cặp thoại thường do hai tham thoại tạo nên, được gọi là cặp thoại hai tham thoại.
Trong cặp thoại này, mỗi tham thoại tương ứng với một chức năng cụ thể. Tham thoại thứ nhất gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai được gọi là tham thoại hồi đáp. Ở cặp thoại này, lượt lời trùng khớp với tham thoại, tham thoại trùng khớp với hành động ngôn ngữ. Cặp thoại hai tham thoại là dạng đơn giản, dễ nhận biết nhất trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ.
Các cặp thoại cũng không phải được nói ra một cách ngẫu nhiên, tùy tiện. Chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy tắc chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại. Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai. Khi nói một điều, người ta dự đoán, chờ đợi một điều khác sẽ xảy ra.
Sau khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ, người ta chờ đợi một hành vi ngôn ngữ đáp ứng. Nghĩa là, hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau. Lượt lời là đơn vị cơ bản của hội thoại. Đó là một lần nói xong của một người trong khi những người khác không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo nói.
Dựa vào số lượng các nhân vật tham gia cuộc thoại, có thể phân chia ra thành các kiểu thoại như sau: - Đơn thoại: là lời thoại phát ra từ phía người nói hướng đến người nghe nhưng không nhận được sự hồi đáp của người nghe. Người nghe phản hồi bằng hành động hay thực hiện bằng cử chỉ không được tác giả mô tả trực tiếp. Biểu hiện của dạng thức này thể hiện rõ nhất là lời độc thoại nội tâm. - Song thoại: là cuộc thoại gồm có hai nhân vật giao tiếp với nhau theo quan hệ hai chiều.
Đó là cuộc giao tiếp xảy ra tương tác giữa người nói và người nghe, hay là cuộc giao tiếp diễn ra hành vi trao lời và đáp lời. Lời của người trao hướng đến người nghe và có sự đối đáp bằng hành vi ngôn ngữ. - Tam thoại: là cuộc giao tiếp trong đó có ba người tham gia với ba vai khác nhau. 15 - Đa thoại: là cuộc thoại có nhiều người tham gia.
Lời của nhiều nhân vật đan xen vào nhau trong một ngữ cảnh hội thoại cụ thể. Giao tiếp văn học là một hoạt động giao tiếp đặc biệt, ở đó chỉ diễn ra quá trình phát ngôn (của nhà văn) mà không ghi nhận những phản ứng của người đọc vào trong diễn ngôn văn học, vì thế hành động ngôn ngữ đặc trưng, phổ biến của người trần thuật là hành động kể - trần thuật (hành động này được người trần thuật thực hiện nhằm thuật lại, tái hiện sự việc). Văn bản trần thuật có thể được coi như là một câu trần thuật được mở rộng nhằm kể lại các sự kiện cho người tiếp nhận trần thuật biết, đồng cảm và đánh giá cùng mình. Ngoài ra, còn có thể tìm thấy trong lời người trần thuật các kiểu hành động ngôn ngữ khác, với tần số xuất hiện ít hơn như: hành động miêu tả (hành động giúp người đọc hình dung được các sự việc, chi tiết, nhân vật, thời gian, không gian của câu chuyện), hành động biểu cảm (hành động bày tỏ trạng thái tâm lí của người kể chuyện, làm cho câu chuyện giàu cảm xúc), hành động bình luận, đánh giá (giúp người đọc thấy rõ thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của người trần thuật với các sự việc, nhân vật trong câu chuyện).
Các kiểu hành động ngôn ngữ của người trần thuật trong truyện kể có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó, kể (trần thuật) là hành động chủ đạo, các hành động khác (miêu tả, biểu cảm, bình luận, đánh giá) có vai trò hỗ trợ, phối hợp để tạo điểm nhấn trong diễn ngôn truyện kể. Ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự Văn chương là nghệ thuật ngôn từ. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là phong cách ngôn ngữ khai thác triệt để toàn bộ mội phương tiện ngôn ngữ của dân tộc và thậm chí là ngôn ngữ vay mượn để thỏa mãn mục đích sáng tạo của mình. Vì vậy, lí luận văn học xem ngôn ngữ tác giả chính là toàn bộ ngôn ngữ làm nên văn bản nghệ thuật của tác phẩm.
Tuy nhiên, nếu đi vào một tác phẩm tự sự cụ thể thì người ta sẽ chia thành ba chủ thể ngôn ngữ trong tác phẩm. Trong đó, đầu tiên sẽ kể đến ngôn ngữ người kể chuyện. Có thể là một nhân vật ở ngôi thứ ba hoặc là một nhân vật tham gia vào câu chuyện được mang vai người kể chuyện. Bộ phận thứ hai là ngôn ngữ của các nhân vật.
Trong đó, có ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật. Đây là đối tượng rất cần được phân tích bằng lí thuyết hội thoại của ngữ dụng học. 16 Dạng thức hai của ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ độc thoại. Ngôn ngữ độc thoại đó có khi độc thoại bằng lời, độc thoại nội tâm.
Hoặc có thể có một cách phân chia khác bao gồm: ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ của nhân vật. Ngôn ngữ tác giả Ngôn ngữ tác giả chính là ngôn ngữ của người viết của chủ thể sáng tạo ra tác phẩm. a) Ngôn ngữ mang "cái tôi" trần thuật của tác giả Ở kiểu ngôn ngữ này, tác giả xưng "tôi" khi trình bày hay bàn luận về các vấn đề, sự kiện, hiện tượng,. được đề cập trong tác phẩm.
"Cái tôi" này thường là "cái tôi" nhân chứng cho nên nó có tác dụng làm tăng độ xác thực, độ tin cậy của thông tin. Chính việc đàm thoại trực tiếp với độc giả từ danh tính của "cái tôi" cá nhân đầy cụ thể đã giúp cho tác giả thể hiện một cách tự do thái độ, tình cảm của mình. Vì lẽ đó, ngôn ngữ mang "cái tôi" trần thuật luôn ngập tràn cảm xúc cá nhân. Ngôn ngữ mang cái tôi trần thuật của tác giả thường giàu tính biểu cảm nên rất sinh động, dễ đi vào lòng người.
Nó có thể gặp trong nhiều thể loại, nhưng phổ biến hơn cả là phóng sự, bút ký, ghi chép, v. b) Ngôn ngữ không mang "cái tôi" trần thuật của tác giả Dễ dàng nhận thấy, ngôn ngữ sự kiện khá "khô khan", vì thế, nó chủ yếu gặp trong thể loại tin, là nơi sự hấp dẫn nằm ở ngay trong sự kiện chứ không phải ở cách thức biểu đạt bằng ngôn từ. Ngôn ngữ người kể chuyện Theo Trần Đình Sử “ Người kể chuyện (người trần thuật) là một người do nhà văn tạo ra để thực hiện hành vi trần thuật”[tr 60]. (Trần Đình Sử chủ biên, Giáo trình lí luận văn học tập II, Nxb Đại học Sư phạm.
Người kể chuyện trong văn bản ẩn mình trong dòng chữ. Có thể kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Người kể chuyện có thể kể khi họ cảm thấy như người trong cuộc hay chứng kiến toàn cảnh sự việc ấy. Do vậy về căn bản người kể chuyện đều kể theo ngôi thứ nhất.
Cái gọi là ngôi thứ ba thực chất là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức hoặc đã được ý thức nhưng cố ý giấu mình. Người kể ngôi thứ nhất xưng “tôi” là nhân vật trong truyện chứng kiến các sự việc diễn ra. Ngôi thứ ba cho phép người kể có thể biết tất cả những gì họ biết còn ngôi thứ nhất thì chỉ được kể những gì mà khả năng của một người cụ thể biết được. Theo Hà Minh Đức: “ Ngôn ngữ kể chuyện của tác phẩm không thể thiếu tính 17 biểu cảm bởi văn học luôn tác động tới cuộc sống bằng con người tình cảm”[tr,149].
* Người kể chuyện toàn tri: Kể chuyện từ ngôi thứ ba với người kể chuyện mang điểm nhìn toàn tri vẫn là hình thức trần thuật phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, trong sự đổi mới nghệ thuật trần thuật, tình huống trần thuật này đã được biến hóa linh hoạt cho phù hợp với tư duy tiểu thuyết thời đại mới. Nhiều tác phẩm về cơ bản được kể từ người kể chuyện toàn tri, nhưng nhà văn đã khéo léo dịch chuyển điểm nhìn, thay đổi giọng điệu. Sự biến đổi linh hoạt này đặc biệt được thể hiện rõ ở tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết có tính chất tự truyện.
Bằng cách khước từ lối tự sự tiêu cự zero với một điểm nhìn duy nhất, liên tục chuyển đổi điểm nhìn, phối hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn, các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử đã rút ngắn khoảng cách giữa lịch s ử và hiện đại, xử lí ổn thỏa mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu. Cũng như thế, chọn kiểu trần thuật từ ngôi ba với người kể chuyện toàn tri như một hình thức đánh tráo ngôi kể, song lại liên tục hoán đổi điểm nhìn, đặt điểm nhìn vào nhân vật, một mặt khoảng cách giữa tác giả và nhân vật vẫn được xác lập, mặc khác ở người kể chuyện vẫn thấp thoáng bóng dáng của nhà văn.