phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, , Phụ lục, luận án gồm 4 chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận nghiên cứu hành động hỏi Chƣơng 2. gián tiếp mô hình kết hợp Chƣơng 4: Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào dạy-học 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU HÀNH ĐỘNG HỎI 1. Nền tảng cơ sở lí luận vững chắc sẽ giúp việc giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra đi đúng hướng và triệt để hơn.
Vớ “Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)”, lí thuyết (HĐNT) lí thuyết hội thoạ chọn cho việc thông tin (CCTT). Lí thuyết hành động ngôn từ Luận án vận dụng lí thuyết về HĐNT để xác định nội hàm khái niệm HĐH, phân tích mối quan hệ giữa TNV và HĐNT, xác định các thuật ngữ liên quan đến HĐH để sử dụng trong luận án, xác lập tiêu chí và qui trình nhận diện HĐH. hành động hỏi 1. Nội hàm khái niệm hành động hỏi Các được thực hiện bằng các phát ngôn được gọi chung là “hành động ngôn từ” (speech acts-발화행위).
Thuật ngữ “speech acts” trong các ấn phẩm tiếng 17 Việ ọi khác nhau, ví dụ (vd): “hành động ngôn từ” tác giả [26 [6, 8 [31, 33], Đỗ Việt Hùng [40]…; “hành động nói” tác giả Diệp Quang Ban [4], “ (năng)” trong George Yule [23]…, “ ” tác giả [10, 11 [28, 29, 32 Tâm [58]…; “ ” của tác giả [36]… Austin trong “How to do things with words” [1962] quan niệ : “h ”, “ ” [11, tr. Searle xếp “hỏi” vào nhóm “điều khiển- directive”1- có nội dung mệnh đề ủa người nghe. Theo khảo sát của chúng tôi, trong Từ điển tiếng Việt [79, tr. 454] không xuất hiện mục từ “câu hỏi” hoặc “câu nghi vấn” Ngoài mục từ “hỏi 1” với nghĩa là “dấu hỏi”, mục từ “hỏi 2” với tư cách là động từ (V) được giải thích như sau: “Hỏi 2.
Nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời. Xin hỏi một câu. Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ (tng. Nói ra điều mình đòi hỏi hoặc mong muốn ở người ta với yêu cầu được đáp ứng.
Hỏi mượn quyển sách. Hỏi giấy tờ …”. HĐNT (1) hướng tới yêu cầu CCTT. HĐNT (2) yêu cầu đối tượng giao tiếp thực hiện.
Theo Lee Jang Deuk [99, tr.51-52]: Những nghi vấn nảy sinh trong hoạt động nhận thức được biểu đạt bằng (PTNN) hay phi ngôn ngữ và yêu cầu đáp bằng “대답”-trả lời, sẽ trở thành “질문”- hành động hỏi2. 1 Thuật ngữ “directive” của Searle được một số nhà Việt ngữ học như Nguyễn Thiện Giáp [20], Nguyễn Thị Thanh Bình [6, 7, 8], Vũ Thị Thanh Hương [35, 36]…dịch là “cầu khiến”.116]: “Những tiều từ tình thái như “xem”, “đi”, “nghe” được coi là dấu hiệu ngôn hành của những phát ngôn thuộc nhóm khuyến lệnh”. 2 Tuy nhiên, khi nghiên cứu về các PTNN thực hiện HĐH (질문행위), tác giả xét cả nhóm câu hỏi thực hiện HĐNT gián tiếp-không thực hiện HĐH yêu cầu CCTT mà hướng tới thực hiện trần thuật, mệnh lệnh, cầu khiến.138] 18 L nghiên cứu “ ” với tư cách là: “H (giải thích, lựa chọn, phán định, xác nhận) thông tin chưa biết/ chưa rõ cần biết/ cần làm rõ”. Hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp Tác giả Diệp Quang Ban [4, tr.109] viết: “Khi một kiểu câu được dùng đúng với chức năng vốn có của nó, thì nó hoạt động với tư cách hành động nói trực tiếp (direct speech act); khi một kiểu câu hoạt động với một chức năng không phải vốn có của kiểu câu đó thì nó hoạt động với tư cách hành động nói gián tiếp (indirect speech act)”.
Như vậy, ta có thể xác định HĐH trực tiếp và HĐH gián tiếp như sau: a. Hành động hỏi trực tiếp HĐH thực hiện bở ức kết cấu là HĐH trực tiếp. Theo Searle, khi giao tiếp thì một HĐH (question) được coi là chân thực khi thỏa mãn 4 điều kiện [11, tr. 471]) sau: , điều kiện nội dung mệnh đề: Tất cả các mệnh đề hay hàm mệnh đề, , điều kiện chuẩn bị: i) S (speaker) không biết lời đáp; ii) đối với S, cả với H (hearer) không chắc rằng thế nào H cũng CCTT lúc trò chuyện nếu S không hỏi, , điều kiện chân thành: S mong muốn có được thông tin đó, , điều kiện căn bản: S nhằm cố gắng nhận được thông tin từ H.
Hành động hỏi gián tiếp Thuật ngữ “indirect speech act” do Searle đặt ra: “Một HVTL (hành vi tại lời) được thực hiện gián tiếp qua một HVTL khác sẽ được gọi là HVGT-(hành vi gián tiếp) ( Nguyễn Đức Dân [14, tr. Như vậy, HĐH gián tiếp yêu cầu CCTT thực hiện bởi các BTH không mang hình thức kết cấu hỏi. Nguyễn Thiện Giáp [21, tr.207], HĐNT gián tiếp “được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ gián tiếp giữa một chức năng và một cấ [11, tr.495-497] : HĐH gián tiếp có đặc điểm như các HĐNT gián tiếp khác: i) Lệ thuộc mạnh vào ngữ cảnh; ii) Có một (hoặc một số) 3 Hoàng Thị Yến chú giải nghĩa cụm từ viết tắt (HVTL, HVGT). 19 BTH đặc trưng; iii) Dấu hiệu hình thứ ủa HĐNT trực tiếp; iv) Bị qui định bởi thuyết lập luận, phương châm hội thoại, phép lịch sự.
, việc nhận diện HĐH trực tiếp hay HĐH gián tiếp đều không dễ dàng, ngay cả đối với người bản ngữ. Phát ngôn hỏi này có thể là HĐNT trực tiếp nếu dùng để hỏi. Phát ngôn tiếp theo lời đáp „Có ạ‟ của học sinh có thể là: „Em hãy dùng bút đỏ gạch chân phần ghi nhớ‟. Phát ngôn này cũng có thể là HĐNT gián tiếp nếu nó được dùng để yêu cầu.
Phát ngôn hồi đáp ở đây có thể là: „Em có mang đây ạ. Cô cứ giữ lấy mà chấm bài. Em có những hai chiếc cơ‟. Như vậy, để xác định một phát ngôn hỏi thực hiện một HĐH trực tiếp hay một HĐNT gián tiếp nào khác phải căn cứ vào ngữ cảnh, hoặc ít nhất là trong quan hệ với lời hồi đáp.
Chúng tôi vận dụng thành tựu nghiên cứu về vào thực tiễn nghiên cứu HĐH tiếng Hàn (trong liên hệ với tiếng Việt) ịnh các ,. Tính nghi vấ Nghi vấn là động lực của nhận thức. Trong Từ điển tiếng Việt [79], “nhận thức” là: “quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó” [tr.712]; “nghi vấn” là: “nghi ngờ và thấy cần được xem xét và giải đáp” [tr. Mức độ TNV quy định tính chất các HĐNT thực hiện bằng kết cấu hỏi và giúp nhận biết HĐH thực hiện bởi các kết cấu khác.
Luận án xác định: i) Khái niệm câu , TNV; ii) Mức TNV của HĐNT thực hiện bởi kết cấu hỏi; iii) Mối quan hệ giữa TNV và yêu cầu nhận thức của HĐH trực tiếp; iv) Thuật ngữ liên quan đến HĐH. Một số khái niệm tiền đề a. Khái niệm câu hỏi/ câu nghi vấn ạo [26 : “ngoài giá trị hỏi (yêu cầu thông báo)”, câu hỏi còn “có thể có một (những) giá trị ngôn trung phái sinh (phủ định, khẳng định, tỏ ý ngờ vực, thách thức, tranh luận, v.) và trong nhiều trường hợp, cái giá trị ngôn trung “phái sinh” này lại là công dụng và mục đích duy nhất của 20 câu nói, trong khi tính chất nghi vấn chỉ còn là một hình thức thuần túy, may ra chỉ góp một sắc thái tu từ nào đó cho câu nói”. các công trình tiếng (Lee Ik Seup và Chae Wan [98], Lee Joo Haeng [102], Nam Gee Sim và Ko Young Geun [104] [119] Việt (Cao Xuân Hạo [26], [45], Hoàng Trọng Phiến [52], Nguyễn Kim Thản [60]…), ổng hợp thành ỏi như sau: “Câu hỏi (câu nghi vấn) là loại câu có một hoặc cả ba dấu hiệu hình thức nghi vấn (ngữ điệu hỏi, từ hỏi, đuôi câu hỏi).
Người nói sử dụng câu hỏi thực hiện hành động ngôn từ thể hiện mong muốn người nghe làm sáng tỏ hoặc xác nhận điều mình chưa biết, chưa rõ. Câu hỏi cũng dùng để thực hiện hành động ngôn từ có giá trị ngôn trung khác ngoài yêu cầu cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu nhận thức”. Như vậy, , điều kiện tạo lập câu hỏi : i) Người nói có “điều chưa biết, chưa rõ”, ii) Người nói “muốn” người nghe làm sáng tỏ điều chưa biết, xác nhận điều chưa chắc chắn, iii) Người nói sử dụng kết cấu hỏi. Mục đích phát ngôn hỏi là: i) Yêu cầu CCTT và ii) T ngôn trung khác.
:C ỏi dạng và các quan niệm về câu hỏi chính danh/ phi chính danh, câu hỏi đích thực/ không đích thực như sau: i) Câu hỏi chính danh là câu hỏi dùng để thực hiện HĐH, yêu cầu CCTT về cái chưa biết, muốn biết (Lê Đông [19], Cao Xuân Hạo [26]…); ii) Câu hỏi chính danh là câu hỏi đích thực dùng để hỏi, câu hỏi phi chính danh là câu hỏi không đích thực không dùng để hỏi (Nguyễn Đăng Sửu [57]; iii) Câu hỏi chính danh (hay chân thực) là câu hỏi nhằm mục đích để hỏi, câu hỏi không chính danh là dạng câu có hình thức của câu hỏi nhưng không thực hiện HĐH (Bùi Minh Toán [71]. Tuy nhiên, với các thuật ngữ này, chúng tôi khó khăn khi định danh các PTNN thực hiện HĐH yêu cầu CCTT. Thiết nghĩ, cần định rõ mối quan hệ giữa hình thái kết cấu của PTNN và tên gọi. Chúng tôi hiểu thuật ngữ trên như sau: 21 , câu hỏi chính danh có kết cấu hỏi, mang giá trị ngôn trung là thực hiện HĐH; nếu mức độ TNV hỏi không cao, nó sẽ ực hiện HĐNT gián tiếp khác; , câu hỏ ết cấu trần thuật/ cầu khiến/ cả ực hiện HĐH yêu cầu CCTT một cách gián tiếp; , câu hỏi đích thực hướng tới đích ngôn trung là thực hiện HĐH dù mang hình thái cấu trúc của hay ; , câu hỏi không đích thực kết cấ trung khác.
Tóm lại, về hình thức, câu hỏi chính danh và câu hỏi không đích thực mang kết cấu hỏi, câu hỏi phi chính danh không mang hình thức câu hỏi, câu hỏi đích thực có thể là câu hỏi hay các loại câu khác. Về nội dung, câu hỏi phi chính danh và câu hỏi đích thực đều thực hiện HĐH, một bộ phận câu hỏi chính danh là câu hỏi không đích thực hướng tới thực hiện HĐNT gián tiếp. quán triệt và việc định. Khái niệm “tính nghi vấn” Các t Seo Soon Hee [115, tr.131] Chae Wan [98, tr.233] quan niệm: Nghi vấn (의문) là cái chưa biết, là sự thiếu hụt thông tin, là hiện tượng xuất hiện ý muốn biết về một sự vật hiện tượng nào đó mà người nói không biết.
Tác giả Seo Soon Hee [115, tr.