Nghiên Cứu Hàm Cầu Tiền Tại Việt Nam Từ Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh

Chuyên khảo phân tích ¬đại học quốc gia thành phố hồ chí minh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2015

95
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VỀ CUNG VÀ CẦU TIỀN TỆ

1.1. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CUNG VÀ CẦU TIỀN TỆ

1.2. Tổng quan về lý thuyết cung tiền

1.2.1. Khái niệm “Cung tiền là khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo các nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa cũng như các nhu cầu chi tiêu trao đổi khác của nền kinh tế xã hội”

1.2.2. Các thành viên tham gia quá trình cung ứng tiền tệ

1.3. Tổng quan về lý thuyết cầu tiền

1.3.1. Lý thuyết số lượng tiền

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẦU TIỀN CỦA VIỆT NAM

2.1. TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM

2.2. Về tăng trưởng kinh tế (GDP) và chỉ số giá CPI

2.3. Về lãi suất tiền gửi

2.4. Về hiện tượng đô la hóa tại Việt Nam

2.5. Về thị trường chứng khoán

2.6. Về thị trường vàng

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1. Xây dựng hàm cầu tiền và lựa chọn biến số

3.2. Phương pháp ước lượng

3.3. Mô tả dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị để kiểm tra tính dừng

4.2. Ước lượng độ trễ tối ưu

4.3. Kết quả ước lượng ARDL

4.3.1. Kết quả ước lượng hàm cầu tiền thực M1/P ngắn hạn

4.3.2. Kiểm định đường bao (Bound test) cho hàm cầu tiền M1/P dài hạn

4.3.3. Kết quả ước lượng hàm cầu tiền thực M2/P ngắn hạn

4.3.4. Kiểm định đường bao (Bound test) cho hàm cầu tiền M2/P dài hạn

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Hàm Cầu Tiền Tại Việt Nam

Nghiên cứu hàm cầu tiền tại Việt Nam là một lĩnh vực quan trọng trong phân tích kinh tế vĩ mô. Hàm cầu tiền không chỉ phản ánh nhu cầu nắm giữ tiền của người dân mà còn ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Việc hiểu rõ về hàm cầu tiền giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định chính xác hơn trong việc điều hành nền kinh tế.

1.1. Khái Niệm Cơ Bản Về Hàm Cầu Tiền

Hàm cầu tiền là mối quan hệ giữa lượng tiền mà người dân muốn nắm giữ và các yếu tố tác động như thu nhập, lãi suất, và lạm phát. Nghiên cứu này giúp xác định các yếu tố nào ảnh hưởng đến nhu cầu nắm giữ tiền của người dân tại Việt Nam.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Hàm Cầu Tiền

Nghiên cứu hàm cầu tiền có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách tiền tệ. Nó giúp các nhà hoạch định chính sách dự đoán nhu cầu tiền tệ và điều chỉnh cung tiền một cách hợp lý, từ đó ổn định nền kinh tế.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Hàm Cầu Tiền

Mặc dù nghiên cứu hàm cầu tiền đã được thực hiện nhiều nơi trên thế giới, nhưng tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Các yếu tố như lạm phát, tỷ giá hối đoái, và sự đô la hóa có thể làm phức tạp thêm việc ước lượng hàm cầu tiền.

2.1. Những Thách Thức Trong Việc Thu Thập Dữ Liệu

Việc thu thập dữ liệu chính xác và đầy đủ về các yếu tố kinh tế vĩ mô là một thách thức lớn. Dữ liệu không đồng nhất và thiếu tính kịp thời có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

2.2. Ảnh Hưởng Của Các Yếu Tố Kinh Tế Vĩ Mô

Các yếu tố như lạm phát và tỷ giá hối đoái có thể tác động mạnh đến cầu tiền. Sự biến động của các yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng trong nghiên cứu để có được kết quả chính xác.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hàm Cầu Tiền Tại Việt Nam

Để ước lượng hàm cầu tiền, nghiên cứu sử dụng mô hình ARDL (Autoregressive Distributed Lag). Phương pháp này cho phép phân tích mối quan hệ giữa cầu tiền và các yếu tố tác động một cách hiệu quả.

3.1. Mô Hình ARDL Trong Nghiên Cứu

Mô hình ARDL giúp xác định mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa cầu tiền và các yếu tố như thu nhập thực, lãi suất, và chỉ số chứng khoán. Phương pháp này đã được áp dụng thành công trong nhiều nghiên cứu trước đây.

3.2. Lựa Chọn Biến Số Trong Mô Hình

Việc lựa chọn biến số phù hợp là rất quan trọng. Các biến như GDP thực, CPI, và lãi suất tiền gửi được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính chính xác của mô hình.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Hàm Cầu Tiền Tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy cầu tiền thực M1/P và M2/P tại Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với thu nhập thực và lãi suất. Những phát hiện này có thể giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh chính sách tiền tệ một cách hiệu quả.

4.1. Kết Quả Ước Lượng Hàm Cầu Tiền

Kết quả ước lượng cho thấy cầu tiền thực M1/P phụ thuộc vào thu nhập thực và lãi suất tiền gửi. Điều này cho thấy rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu nắm giữ tiền.

4.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc hoạch định chính sách tiền tệ. Các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng thông tin này để điều chỉnh cung tiền nhằm ổn định nền kinh tế.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Hàm Cầu Tiền

Nghiên cứu hàm cầu tiền tại Việt Nam đã chỉ ra những mối quan hệ quan trọng giữa cầu tiền và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được mở rộng để bao quát các yếu tố mới và biến động trong nền kinh tế.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Hàm Cầu Tiền

Nghiên cứu cần tiếp tục được cập nhật với các dữ liệu mới và các yếu tố kinh tế đang thay đổi. Điều này sẽ giúp cải thiện độ chính xác của các mô hình dự báo cầu tiền.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới

Các nghiên cứu trong tương lai có thể xem xét thêm các yếu tố như công nghệ tài chính và sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của người dân để có cái nhìn toàn diện hơn về cầu tiền.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
¬đại học quốc gia thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1.Tổng quan về lý thuyết cung và cầu tiền.Thực trạng các nhân tố ảnh hƣởng đến cầu tiền của Việt Nam.Phân tích kết quả nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VỀ CUNGVÀ CẦU TIỀN TỆ Cung và Cầu tiền đóng vai trò quan trọng trong hoạch định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong việc đƣa ra chính sách tiền tệ.

Chƣơng này mô tả những lý thuyết về cung và cầu tiền qua thời gian đã tiến triển nhƣ thế nào và tóm lƣợc các nghiên cứu thực nghiệm về cầu tiền trên thế giới và Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CUNG VÀ CẦU TIỀN TỆ 1. Tổng quan về lý thuyết cung tiền 1. Khái niệm “Cung tiền là khối lƣợng tiền cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo các nhu cầu sản xuất, lƣu thông hàng hóa cũng nhƣ các nhu cầu chi tiêu trao đổi khác của nền kinh tế xã hội” (Nguyễn Đăng Dờn, 2009, trang 28).

Nhƣ vậy, mức cung tiền tệ là toàn thể khối tiền tệ đã đƣợc cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Mức cung tiền tệ tạo thành khối tiền tệ bao gồm các thành phần sau:  Tiền giao dịch (M1): Tiền giao dịch là khối tiền trực tiếp làm phƣơng tiện lƣu thông và phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế. Vì vậy, nó cho phép đáp ứng ngay các nhu cầu thanh toán của các cá nhân, tổ chức.Tiền giao dịch (M1) bao gồm: + Tiền mặt đang lưu hành (C-cash): Tiền mặt lƣu hành, còn gọi là tiền mặt trong lƣu thông bao gồm ba bộ phận: • Tiền mặt trong tay nhân dân. • Tiền mặt trong quỹ các đơn vị, tổ chức kinh tế.

• Tiền mặt trong quỹ nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Ba bộ phận tiền mặt này còn đƣợc gọi là cơ số tiền tệ gây áp lực trực tiếp và mạnh mẽ đối với lực lƣợng hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế vì vậy nó là bộ phận cần đƣợc theo dõi và kiểm soát chặt chẽ. Tiền mặt lƣu hành chính là lƣợng tiền giấy do LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ngân hàng Trung ƣơng phát hành và đang nằm trong lƣu thông. Do đó nó còn đƣợc gọi là tiền Trung Ƣơng.

+ Tiền gửi không kỳ hạn (Deposit) Tiền gửi không kỳ hạn đƣợc xem là tiền giao dịch, bởi vì ngƣời gửi tiền (chủ tài khoản) bất kỳ lúc nào cũng có thể sử dụng tiền trên tài khoản này để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ…Tuy nhiên, tính kịp thời và ngay lập tức trong chi trả của tiền gửi không kỳ hạn không thể ngang bằng với tiền mặt đƣợc. Tuy có sự khác nhau giữa tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn nhƣng nó đều có năng lực giải tỏa rất nhanh chóng đáp ứng kịp thời các nhu cầu giao dịch của ngƣời sở hữu chúng. Và vì vậy ngƣời ta gọi nó là tiền giao dịch. Nó còn đƣợc gọi là tiền mạnh.

 Khối tiền giao dịch mở rộng (M2): Bên cạnh khối tiền giao dịch (M1) còn có những khoản khác gọi là “chuẩn tệ” nhƣ tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi định kỳ, trái phiếu kho bạc ngắn hạn, các hối phiếu, kỳ phiếu ngắn hạn… Những tài sản này không sử dụng ngay lập tức nhƣ tiền mặt, tiền gửi hoạt kỳ nhƣng sau một thời gian, nó có thể đƣợc sử dụng. Do vậy nó phải đƣợc cấu tạo vào trong khối tiền tệ của nền kinh tế. Khối tiền rộng vì vậy trở thành đối tƣợng quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia. Tùy mức độ “giải tỏa” của các loại “chuẩn tệ” khối tiền cũng đƣợc phân thành các cấp độ khác nhau.

M2=M1+Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi định kỳ.  Khối tiền (moneytary block) – Ký hiệu là M M=M2+ tiền gửi khác Khối tiền của nền kinh tế với các thành phần của nó, biến động tùy theo tình hình kinh tế tài chính và sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống ngân hàng. Các thành viên tham gia quá trình cung ứng tiền tệ  Ngân hàng trung ương: cơ quan chính phủ có chức năng theo dõi bao quát hệ thống hoạt động ngân hàng và có trách nhiệm thực hiện việc chỉ đạo chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tiền tệ. Ở Mỹ, đó là hệ thống Dự trữ Liên bang.

Ở Việt Nam hiện nay là Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam.  Các ngân hàng (các tổ chức nhận tiền gửi): Những trung gian tài chính, họ nhận tiền gửi từ các cá nhân và các tổ chức và thực hiện cho vay – các ngân hàng thƣơng mại, các công ty tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm tƣơng trợ và các liên hiệp tín dụng.  Người gửi tiền: các cá nhân và các tổ chức nắm giữ tiền gửi ở các ngân hàng.  Người đi vay: các cá nhân, tổ chức vay tiền từ các tổ chức nhận tiền gửi hoặc từ các tổ chức phát hành các trái khoán, các trái khoán đó đƣợc các tổ chức nhận gửi mua.

Trong bốn thành viên trên, thì Ngân hàng trung ƣơng đóng vai trò quan trọng nhất. Ngân hàng trung ƣơng điều hành chính sách tiền tệ liên quan đến các hoạt động tác động làm thay đổi bảng cân đối tài sản của nó. Tổng quan về lý thuyết cầu tiền 1. Lý thuyết số lƣợng tiền Lý thuyết về cầu tiền đƣợc các nhà kinh tế học cổ điển bắt đầu nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.Thực tế các lý thuyết cổ điển không đề cập trực tiếp đến cầu tiền mà nó giải quyết vấn đề giá trị danh nghĩa của tổng thu nhập đƣợc xác định nhƣ thế nào.

Do đó, nó cho biết bao nhiêu tiền đƣợc nắm giữ đối với thu nhập đã cho nên nó cũng là học thuyết về cầu tiền. Cách tiếp cận theo lý thuyết số lƣợng tiền đƣợc trình bày rõ nhất trong tác phẩm “Sức mua của tiền tệ” của nhà kinh tế học ngƣời Mỹ Fisher (1911). Fisher xem xét mối quan hệ giữa tổng lƣợng tiền tệ M với tổng chi tiêu để mua hàng hóa và dịch vụ đƣợc sản xuất ra trong nền kinh tế PY.Trong đó P là mức giá cả và Y là tổng sản phẩm. Tổng chi tiêu PY đƣợc coi nhƣ là tổng thu nhập danh nghĩa của nền kinh tế hoặc nhƣ tổng sản phẩm quốc gia danh nghĩa GNP.

Fisher tìm thấy mối quan hệ giữa M và PY và thể hiện đó qua đại lƣợng V mà Fisher gọi là “tốc độ chu chuyển của tiền” tức là số lần trung bình trong một năm mà một đồng đô la đƣợc dùng để mua tổng số hàng hóa và dịch vụ đƣợc sản xuất trong nền kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1) M * Phƣơng trình trao đổi của Fisher: Nhân hai vế của phƣơng trình (1.1) cho M ta đƣợc phƣơng trình trao đổi MV=PY(1.2) Phƣơng trình trao đổi cho biết lƣợng tiền nhân với số lần mà đồng tiền đó đƣợc chi ra trong một năm đã cho phải bằng thu nhập danh nghĩa của năm đó. Để tính đƣợc số tiền đƣợc nắm giữa là bao nhiêu ta chia hai vế của phƣơng trình trao đổi (1.2) cho V, ta đƣợc 1 M x PY V Khi thị trƣờng tiền tệ cân bằng, số lƣợng tiền mà ngƣời dân nắm giữ (M) bằng số lƣợng tiền đƣợc yêu cầu (Md), đặt k=1/V (k là hằng số vì V là hằng số) ta viết lại phƣơng trình trên nhƣ sau: Md  k x PY (1.3) Phƣơng trình (1.3) cho biết số lƣợng tiền Md mà ngƣời dân yêu cầu đƣợc xác định thông qua các giao dịch sinh ra bởi một mức cố định của thu nhập danh nghĩa (PY). Nhƣ vậy, lý thuyết số lƣợng tiền tệ của Fisher nêu lên rằng tiền tệ thuần túy là một hàm số của thu nhập và lãi suất không có ảnh hƣởng đến cầu về tiền tệ.

* Cách tiếp cận của Cambridge Trên cơ sở ban đầu của lý thuyết số lƣợng tiền của Fisher (từ phƣơng trình (1.1)), một nhóm nhà kinh tế học cổ điển tại đại học Cambridge, Anh, bao gồm Alfred Marshall và A.Pigou tiếp tục nghiên cứu về vấn đề đó. Mặc dù phân tích của họ đƣa đến một phƣơng trình giống y nhƣ phƣơng trình cầu tiền tệ của Fisher (phƣơng trình 1.3), nhƣng cách tiếp cận của họ khác với cách tiếp cận của Fisher. Thay vì nghiên cứu cầu tiền tệ bằng cách chỉ nhìn vào mức giao dịch và các tổ chức ảnh hƣởng đến cách dân chúng tiến hành các giao dịch coi đó là những yếu tố quyết định chủ chốt, những nhà kinh tế học Cambridge đặt câu hỏi xem các cá nhân sẽ muốn giữ bao nhiêu tiền trong một tình huống đƣợc giả định. Trong mô hình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Cambridge, các cá nhân có một sự linh hoạt trong việc quyết định nắm giữ tiền và hoàn toàn không phụ thuộc vào những hạn chế và thể chế chẳng hạn nhƣ họ có thể đƣợc sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng hay không.Vì vậy mà cách tiếp cận của Cambridge không xóa bỏ ảnh hƣởng của lãi suất đối với cầu tiền tệ.

Những nhà kinh tế học cổ điển Cambridge thừa nhận rằng tiền có hai thuộc tính thúc đẩy ngƣời ta muốn giữ tiền: Thứ nhất, tiền hoạt động nhƣ một phƣơng tiện trao đổi mà ngƣời ta cần dùng để tiến hành các giao dịch. Các nhà kinh tế học Cambridge đồng ý với Fisher rằng cầu tiền tệ phải có liên quan đến (nhƣng không đƣợc quyết định bởi) mức các giao dịch và rằng sẽ có một yếu tố cấu thành giao dịch của cầu tiền tệ tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa. Thứ hai, tiền hoạt động nhƣ một phƣơng tiện cất giữ của cải. Thuộc tính này của tiền tệ đƣa các nhà kinh tế học Cambridge đến việc nêu lên rằng mức của cải của con ngƣời cũng ảnh hƣởng đến cầu tiền tệ.

Do của cải của một cá nhân tăng trƣởng, nên anh ta cần cất giữ của cải bằng cách nắm giữ một lƣợng lớn hơn các tài sản mà một trong các tài sản đó là tiền. Bởi vì những nhà kinh tế học Cambridge tin rằng của cải theo số danh nghĩa là tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa, cho nên họ cũng tin rằng bộ phận của cải cấu thành của cầu tiền tệ tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa. Các nhà kinh tế học Cambridge kết luận rằng cầu tiền tệ phải tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa và biểu thị hàm số cầu tiền tệ nhƣ sau Md  k x PY (1.4) Trong đó k là hằng số của tính tỷ lệ. Vì phƣơng trình này giống y nhƣ phƣơng trình (1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ