ĐẶT VẤN ĐỀ Tây Bắc là một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước. Đây cũng là nơi sinh sống của hơn 30 dân tộc, trên 10 triệu người với một không gian văn hóa rộng lớn và phong phú. Tuy nhiên, Tây Bắc vẫn là vùng nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Chăn nuôi được xem là một trong những định hướng quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội ở vùng Tây Bắc.
Việc lựa chọn các chăn nuôi gia súc ăn cỏ là một hướng đi đúng đắn vì ít cạnh tranh lương thực với con người và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng. Trong những năm qua, chăn nuôi gia súc nói chung và trâu bò nói riêng đã có sự phát triển khá mạnh ở vùng núi phía Bắc; với tổng đàn trâu khoảng 1,45 triệu con, chiếm 55,27% tổng đàn trâu cả nước; sản lượng thịt liên tục tăng lên qua từng năm (năm 2010 đạt 84. Tổng đàn bò ở khu vực miền núi phía Bắc có 904.600 con, sản lượng thịt năm 2012 đạt 29.400 tấn; đàn bò sữa ở miền núi phía Bắc tập trung ở Sơn La, Tuyên Quang với số lượng hơn 11.000 con, sản lượng sữa 40. Với đặc điểm khí hậu thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, ở miền núi Bắc Bộ, đặc biệt là vào mùa đông, trời lạnh giá, thức ăn khan hiếm đã làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe trâu bò, làm cho trâu bò ở các tỉnh miền núi bị chết rét khá nhiều, gây tổn thất rất lớn cho người nông dân.
Tình trạng thiếu hụt thức ăn kéo dài dẫn đến nhiều đàn gia súc bị chết vì đói và lạnh có khi lên tới 20% tổng đàn. Như vậy, việc tuyển chọn mới và bổ sung được các giống cỏ và cây trồng chịu lạnh, chịu hạn. làm thức ăn xanh và sạch cho trâu, bò được xem là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho phát triển ngành chăn nuôi trâu bò ở vùng núi Tây Bắc. Mặt khác, vấn đề sản xuất và quản lý chất lượng hạt giống cỏ từ trước đến nay ở Tây Bắc chưa được quan tâm đúng mức.
Các loại hạt giống cỏ hiện nay cung cấp cho sản xuất đều nhập khẩu thông qua một số công ty, chưa có một cơ sở nào sản xuất hạt giống cỏ mà chủ yếu là tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không thể đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất hiện nay. 1 Giống cỏ Ghinê có thể trồng bằng hạt hay bụi gốc. Việc trồng bằng bụi gốc có những hạn chế như: bụi giống cồng kềnh khó vận chuyển, chi phí vận chuyển giống cao, hệ số nhân giống thấp trong khi trồng bằng hạt sẽ khắc phục được những vấn đề trên và giá thành thấp hơn rất nhiều. Hơn nữa việc sản xuất hạt giống cỏ còn mang lại nguồn thu nhập và tạo ra một nghề mới cho nông dân tại địa phương.
Hiện nay có một số cơ sở sản xuất hạt cỏ Ghinê để bán cho các hộ trồng cỏ. Tuy nhiên chất lượng hạt cỏ rất biến động, nhiều khi hạt cỏ có tỷ lệ nảy mầm rất thấp hoặc hoàn toàn không nảy mầm. Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của hạt cỏ Ghinê sẽ giúp các cơ sở sản xuất được hạt cỏ có năng suất và chất lượng cao hơn. Với những lý do trình bày ở trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tuyển chọn giống cỏ làm thức ăn xanh cho trâu bò và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ Ghinê Mombasa tại Sơn La”.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Tuyển chọn được một số giống cỏ, gồm: 3-4 giống có năng suất cao, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái Sơn La làm thức ăn cho trâu bò. - Đưa ra những biện pháp kỹ thuật thích hợp áp dụng vào sản xuất hạt giống của giống cỏ Ghinê Mombasa đạt năng suất cao, chất lượng tốt. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Đề tài góp phần cung cấp thông tin cần thiết, không chỉ đáp ứng về mặt lý luận và thực tiễn cho phát triển chăn nuôi ở vùng Tây Bắc mà còn có ý nghĩa lớn góp phần phát triển kinh tế xã hội trong vùng, xóa đói giảm nghèo cho người dân và bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn ở địa phương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÂY THỨC ĂN CHĂN NUÔI 2. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển Sự sinh trưởng và phát triển của cây là kết quả hoạt động tổng hợp của các chức năng sinh lý trong cây. Do đó việc điều khiển sinh trưởng, phát triển của cây trồng sao cho thu được năng suất cây trồng cao nhất là một việc rất khó khăn nhưng cũng rất quan trọng. Muốn điều khiển được sinh trưởng, phát triển của cây trồng thì phải hiểu biết sâu sắc về bản chất của quá trình này, trên cơ sở đó có những biện pháp tác động thích hợp nhất.
Cho đến nay, sinh trưởng và phát triển của thực vật nói chung, cây thức ăn chăn nuôi nói riêng được hiểu dưới các định nghĩa khác nhau. Nhưng phần lớn các nhà khoa học đều thống nhất định nghĩa về sinh trưởng và phát triển như sau: Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây, kết quả dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích, sinh khối của chúng. Phát triển là quá trình biến đổi về chất bên trong tế bào, mô và toàn cây để dẫn đến sự thay đổi về hình thái và chức năng của chúng. Ví dụ về sự sinh trưởng có thể xem sự phân chia và sự già của tế bào, sự tăng kích thước của quả, lá, hoa, sự nảy lộc đâm chồi, đẻ nhánh, … Các biểu hiện đó không thể đảo ngược được.
Còn tất cả những biểu hiện có liên quan đến biến đổi chất để làm thay đổi hình thái và chức năng của tế bào, của cơ quan, … thì được xem là sự phát triển. Ví dụ như sự nảy mầm của hạt có thể xem đó là một bước nhảy vọt từ một hạt có hình thái và chức năng xác định, nhưng khi nảy mầm thì lập tức biến thành một cây con có hình thái và chức năng hoàn toàn khác so với hạt, một cây con hoàn chỉnh, có khả năng thực hiện các chức năng của một cơ thể thực vật bình thường. Sự ra hoa cũng vậy, là một bước ngoặt chuyển từ giai đoạn sinh trưởng các cơ quan dinh dưỡng sang giai đoạn mới tức hình thành cơ quan sinh sản. Đây là kết quả của một quá trình biến đổi về chất liên tục và lâu dài để có được những cơ quan sinh sản có chức năng hoàn toàn thay đổi, … Trên mức độ tế bào thì phân hoá tế bào thành các mô chức năng riêng biệt cũng được xem là quá trình phát triển của tế bào.
Đặc điểm sinh trưởng của thân lá 2. Động thái sinh trưởng của thân, lá Trong lĩnh vực cây thức ăn chăn nuôi thì phần thân lá được các nhà chăn nuôi đặc biệt quan tâm vì đây là phần chính sử dụng làm thức ăn cho gia súc. Quá trình sinh trưởng của thân lá có thể được chia thành 3 giai đoạn: + Giai đoạn sinh trưởng chậm; + Giai đoạn sinh trưởng nhanh; + Giai đoạn sinh trưởng chậm; Sau khi nảy mầm khối lượng vật chất khô của cây sẽ giảm do chất dự trữ ở hạt được sử dụng trong quá trình nảy mầm. Cây sinh trưởng chỉ dựa vào dinh dưỡng dự trữ trong hạt nên sinh trưởng của cây lúc này chậm.
Cho tới khi những lá xanh đầu tiên xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh trưởng tăng dần đến khi bộ rễ và bộ lá của cây phát triển tương đối hoàn thiện, khả năng hút dinh dưỡng trong đất và khả năng quang hợp của cây mạnh thì cây sinh trưởng rất nhanh. Đến gần giai đoạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng hẳn, cũng có khi ở giai đoạn này trọng lượng vật chất khô của cây bị giảm đi. Mặc dù đồ thị sinh trưởng của thân lá cây thức ăn chăn nuôi có dạng hình chữ S, tuy nhiên độ dài của các giai đoạn sinh trưởng chậm, nhanh, chậm sẽ khác nhau. Dựa vào sự nghiên cứu đồ thị sinh trưởng để người chăn nuôi quyết định: + Thời điểm bón thúc cho cây thức ăn.
+ Thời điểm thu hoạch thích hợp sao cho thu được năng suất và chất lượng thức ăn cao. + Chọn cỏ để trồng kết hợp, hạn chế được sự che bóng của nhau. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân lá - Sức nẩy mầm của hạt cỏ: Sự sinh trưởng của cây thức ăn phụ thuộc trực tiếp vào sức nảy mầm của hạt, nếu hạt có sức nảy mầm cao sẽ tạo điều kiện cho sinh trưởng mạnh sau này. Nhiều loài cỏ có sức nảy mầm cao như cỏ Mộc Châu, nhưng một số khác sức nảy mầm kém và cần được xử lý bằng các phương pháp như xát vỏ, xử lý quang học, xử lý hoá học… như cỏ Ghinê (Panicum maximum), đậu Stylo (Stylosanthes 4 guianensis).
Cũng có loài mà hạt hoàn toàn mất sức nảy mầm như hạt cỏ Pangola (Digitaria decumbens), phải tìm cách nhân giống khác. Phẩm chất của hạt thể hiện qua độ thuần và tỷ lệ nảy mầm. Trước khi gieo hạt cần xác định tỷ lệ nảy mầm (trực tiếp gieo trên đất, cát ẩm hay bông thấm nước) và giá trị nông nghiệp của hạt: %G×%P VA = (%) 100 Trong đó: VA: Giá trị nông nghiệp G: Độ nảy mầm P: Độ thuần của hạt Giá trị này phải đạt ≥ 80% hạt mới được chấp nhận đem sử dụng. Sức nảy mầm của giống không những phụ thuộc vào bản thân hạt mà còn vào sự chuẩn bị giống, điều kiện đất và khí hậu.
Cỏ Gà (Cynodon dactylon) có thể để sau 1 tuần kể từ khi cắt mà vẫn giữ được tỷ lệ nảy mầm cao còn cỏ Pangola (Digitaria decumbens) chỉ sang ngày thứ 2 sau khi cắt tỷ lệ này đã giảm rõ rệt. Những đoạn hom đầu có tỷ lệ nảy mầm cao nhất và khi tăng số đốt của hom sẽ tăng tỷ lệ nảy mầm, tuy từ đốt thứ 3 trở đi độ tăng giảm xuống đột ngột. - Nhiệt độ: Tất cả quá trình sinh lý thực vật đều bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ. Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng (nằm trong nhiệt độ tới hạn) thì sinh trưởng tăng và khi nhiệt độ giảm thì sinh trưởng chậm lại.