Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan 1. Khái niệm về môi trường Đến nay, những vấn đề MT toàn cầu đang đặt ra yêu cầu ngày càng bức thiết đối với nghiên cứu, quan niệm về MT đã hết sức đa dạng, tùy các góc độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau mà sử dụng các khái niệm khác nhau: MT, MT tự nhiên, MT sinh thái, MT địa lý, MT sống. Theo định nghĩa của UNESCO (1987), “MT sống” của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người.
Với nghĩa hẹp, khái niệm “MT sống” của con người chỉ bao gồm các nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như số diện tích nhà ở, chất lượng bữa ăn hàng ngày, nước sạch, bầu không khí cho sinh hoạt, điều kiện vui chơi, giải trí, MT cho hoạt động học tập, MT làm việc,. Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, cả trên thế giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này và đề xuất những cách định nghĩa khác nhau về MT. Theo điều 3, Luật “Bảo vệ môi trường” năm 2015: “MT là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Qua phân tích hàng loạt cách tiếp cận khái niệm, luận án tập trung làm rõ khía cạnh MT tự nhiên bao quanh cuộc sống con người (nhưng mang nghĩa rộng hơn tự nhiên thuần túy trong sinh học, đồng thời không phải là toàn bộ “giới tự nhiên” như triết học).
Môi trường là hệ thống tổng thể các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có vai trò quyết định trực tiếp hoặc ảnh hưởng đến đời sống, hoạt động, sự phát triển của con người trong những thời kỳ lịch sử nhất định. 7 Giữa MT và sự phát triển xã hội loài người có mối quan hệ biện chứng với nhau. MT là địa bàn tạo điều kiện cho hoạt động con người diễn ra, đồng thời là đối tượng chịu sự tác động của con người. MT biến đổi cũng thể hiện phần nào trình độ phát triển xã hội mỗi thời đại đạt được.
Tuy nhiên, không phải mọi sự biến đổi của MT đều cho thấy đó là dấu hiệu phát triển. Có những biến đổi chỉ đáp ứng lợi ích trước mắt, theo một khía cạnh ý nghĩa nhất định chúng ta đã từng coi đó là bước phát triển của trình độ con người trong quá trình chinh phục giới tự nhiên, song lại gây nên biến đổi tiêu cực đối với MT. Quan điểm về sự phát triển xã hội còn nhiều khía cạnh phải nghiên cứu thêm, nhưng trong phạm vi xét ở mối liên hệ với MT thì phát triển cần được hiểu là quá trình biến đổi cả đời sống xã hội con người lẫn MT theo hướng tích cực và bền vững. Tóm lại: Môi trường là tất cả những gì xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Con người là một thực thể tự nhiên có những nhu cầu sống như mọi sinh vật khác, đồng thời là một thực thể xã hội, mà xã hội chính là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên. Đối với con người và xã hội loài người, các điều kiện bao quanh nó không chỉ là những điều kiện tự nhiên mà còn bao gồm các điều kiện xã hội. Khái niệm bảo vệ môi trường Hiện nay, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng MT của chúng ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Từ những điều nhỏ nhất như khói bụi cho đến những điều lớn như biến đổi khí hậu, thời tiết khắc nghiệt hơn, mưa axit, nước biển dâng, sa mạc hóa,.
Đặc biệt, con người sống trong MT bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng không nhỏ. Khi sống trong MT bị ô nhiễm, con người có thể dễ mắc các bệnh về tim mạch, phổi, gan, giảm trí thông minh ở trẻ em,. Vì vậy, việc cấp thiết hiện nay đó là bảo vệ MT và cải thiện MT đang bị ô nhiễm. Theo khoản 3 điều 3 Luật “bảo vệ môi trường” năm 2015: Hoạt động bảo vệ MT là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến MT; ứng phó sự cố MT; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi MT; khai thác, sử dụng 8 hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ MT trong lành.
Các nguyên tắc bảo vệ môi trường theo Luật bảo vệ môi trường: - Bảo vệ MT phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến độ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ MT quốc gia phải gắn với bảo vệ MT khu vực và toàn cầu. - Bảo vệ MT là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. - Hoạt động ô nhiễm MT phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng. - Bảo vệ MT phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
- Mỗi tổ chức, cá nhân, gia đình gây ô nhiễm MT phải có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại, chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật. Như vậy, bảo vệ môi trường là quá trình bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa và khắc phục những tác động bất lợi của sự suy thoái môi trường; gìn giữ môi trường sống nhằm đảm bảo sự phát triển của con người. Khái niệm ý thức bảo vệ môi trường Ý thức con người là một phạm trù rất rộng, là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều khoa học khác nhau như tâm lý học, triết học, luật học, văn học, kinh tế học, nghệ thuật học, đạo đức học,. Mọi trạng thái tâm lý, mọi hoạt động sống của con người đều là biểu hiện và bị chi phối bởi ý thức.
Mỗi lĩnh vực nghiên cứu làm rõ đặc trưng của ý thức tinh thần con người theo khía cạnh khac nhau. Cấu trúc của ý thức về cơ bản bao gồm: Tri thức, niềm tin, tình cảm, giá trị, ý chí. Vai trò của ý thức biểu hiện khi con người có nhu cầu, động cơ, mục tiêu, niềm tin, lý tưởng tích cực hình thành trên nền tảng nhận thức đúng đắn về thế giới, tạo động lực tinh thần từ bên trong thôi thúc ý chí sẵn sàng hành động tích cực. Bảo vệ môi trường là quá trình bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa và khắc phục những tác động bất lợi của sự suy 9 thoái MT; gìn giữ MT sống nhằm đảm bảo sự phát triển của con người.
Từ vai trò quan trọng của môi trường đối với đời sống của con người và xã hội loài người, nên tất yếu con người phải BVMT sống của chính mình. Điều 3 Luật bảo vệ môi trường khẳng định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp. Và để con người có thể BVMT, họ cần phải có YTBVMT, vậy YTBVMT là gì? YTBVMT là một bộ phận của ý thức con người, có cấu trúc phức tạp, đồng thời cũng gồm nhiều cấp độ phản ánh do phụ thuộc vào nhiều yếu tố và cách tiếp cận khái niệm khác nhau. Dựa vào phương thức tồn tại, YTBVMT gồm các yếu tố cơ bản: tri thức về các vấn đề MT; niềm tin vào khả năng thực tiễn trong bảo vệ MT; tình cảm với MT; hệ chuẩn mực về MT và ý chí trong hành độngbảo vệ MT.
YTBVMT là một nội dung của ý thức, chịu sự quy định của những điều kiện MT nhất định. Nội hàm khái niệm YTBVMT chưa có nghiên cứu nào phân tích cụ thể, nhưng rất gần với khái niệm “ý thức sinh thái”, “ý thức đạo đức MT” đã được làm rõ ở một số công trình nghiên cứu: Theo tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, ý thức sinh thái là những quan điểm, quan niệm của con người về MT tự nhiên; về mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa con người (xã hội) với MT đó: về tình cảm, thái độ và trách nhiệm của con người trong việc giải quyết các vấn đề sinh thái nhằm đạt đến mục tiêu phát triển bền vững. Tác giả Phạm Văn Bông đưa ra cách hiểu về ý thức sinh thái: là hệ thống quan điểm, quan niệm của con người về hệ sinh thái và ý thức về trách nhiệm của con người trong hệ sinh thái đó. Tác giả Phạm Thành Nghị kế thừa quan niệm này khi bàn về “ý thức sinh thái cộng đồng”: Ý thức sinh thái cộng đồng có thể hiểu là những quan điểm, quan niệm của cộng đồng của MT; về mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa con người, cộng đồng và MT; thái độ và trách nhiệm của con người, cộng đồng trong giải quyết các vấn đề sinh thái.
Như vậy, một số tác giả đã phân tích khái niệm ý thức sinh thái là khả năng phản ánh của con người trước thực trạng sinh thái MT, thể hiện qua hệ thống quan điểm, thái độ, tình cảm, trách nhiệm với MT sinh thái. Tuy nhiên, các tác giả làm 10 rõ: ý thức sinh thái (cũng tương tự như ý thức nói chung) phản ánh lĩnh vực MT sinh thái có khả năng tác động chở lại MT sinh thái theo hai khuynh hướng (tích cực hoặc tiêu cực). Hơn nữa, các nghiên cứu chưa chỉ ra điểm khác biệt giữa khái niệm ý thức sinh thái với khái niệm YTBVMT, mặc dù hai khái niệm rất gần nhau, trong nhiều trường hợp được sử dụng ngang nhau. Do vậy, để làm rõ hơn khuynh hướng tác động tích cực của ý thức con người đến MT, tác giả đưa ra quan niệm về YTBVMT: YTBVMT là sự phản ánh đúng đắn các vấn đề môi trường và mối quan hệ giữa con người với môi trường trên cơ sở nhận thức khoa học, thể hiện bằng tình cảm tích cực, niềm tin, ý chí mạnh mẽ trong định hướng hành vi con người theo một chuẩn mực nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của con người.
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên đại học 1. Đặc điểm của sinh viên Ở Việt Nam, sinh viên là những người theo học tại các cơ sở giáo dục cao đẳng và đại học của hệ thống giáo dục quốc dân. Sinh viên là lực lượng trí thức trẻ, là bộ phận thanh niên tiến bộ trong xã hội, là nhóm xã hội có vị trí đặc biệt cần phải coi trọng.