CHƯƠNG 1. ĐẠO ĐỨC SINH THÁI PHẬT GIÁO 1. Nguồn gốc, cơ sở hình thành Đạo đức sinh thái Phật giáo 1. Nguồn gốc, cơ sở về lịch sử, xã hội Ấn Độ với nền văn minh lâu đời, mang nhiều dấu ấn lịch sử của nhân loại.
Vào khoảng thế kỉ VI đến V TCN, Ấn Độ là cái nôi đầu tiên cho sự hình thành và phát triển của đạo Phật, và là một nền văn hóa tâm linh phát triển mạnh mẽ lúc bấy giờ. Một nhà hiền triết, một nhà triết học có thật trong lịch sử của nền Triết học Ấn Độ cổ đại là Shidhartha Gauthama, Đức Phật lịch sử xuất hiện mở ra kỷ nguyên Phật giáo. Thời kỳ này lịch sử Ấn Độ có sự chuyển biến rất lớn. Các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, học thuật dường như đang nằm trong một cuộc vận động mạnh mẽ.
Trước khi Đức Phật ra đời vài trăm năm, nền văn minh Ấn Độ nằm ở các khu vực thượng lưu sông Hằng như Kuruksetna, Pancàla, Matsya và Suracena, v.v… Ở thời kỳ này, những quan điểm của tầng lớp Bà-la-môn chi phối tất cả. Đến thời đại Đức Phật ra đời thì cuộc vận động văn hóa đã làm cho vũ đài chính trị, kinh tế, thứ tự giai cấp gần như đảo lộn. Bằng chứng là trong tư tưởng thời kỳ trước nặng về hình thức, tĩnh tại và nhuốm nặng chất thi ca, hình nhi thượng (siêu hình học hiểu theo nghĩa triết học Phương Tây); đến thời kỳ Đức Phật thì tư tưởng thực tế, năng động, gần gũi với con người hơn. Sự phát triển của Phật giáo gắn liền với sự thúc đẩy, sự liên hệ vô cùng mật thiết với tình hình xã hội.
Việc tu hành của tăng nhân là nỗ lực tìm sự thanh đạm giản dị, không xâm phạm nguồn tài nguyên thiên nhiên, thể hiện một mối quan hệ cộng sinh với vạn vật, một triết lý nhân sinh mang tính chất đạo đức sinh thái nhân văn đã định hình từ khá sớm trong lịch sử. Nhận thức được chân lý và quy luật của vũ trụ, đồng thời xuất hiện từ nền văn hóa đang tồn tại, Phật giáo đã xây dựng nên một hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan riêng biệt, mang đậm dấu ấn Phật giáo. Ra đời và phát triển trong điều kiện không gian nước Ấn đang trong thời kì nông nghiệp biến đổi mạnh. Và về sau sự phát triển của đạo Phật diễn ra mạnh mẽ, truyền đạo, du nhập vào nhiều quốc gia trên thế giới.
8 Luan van Cùng với sự phát triển của xã hội, từ thế kỉ XVIII bước vào nền văn minh công nghiệp về sau, con người đã vô tình hay hữu ý phá hủy môi trường sinh thái ngày càng nghiêm trọng hơn. Nhân loại và tự nhiên ở trong nguy cơ đang đâm vào nhau, hoạt động của con người đã mang đến tổn thương cho môi trường tự nhiên. Vào thập niên 70 của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhà sinh vật học người Đức là Emst Haeckel (1834 - 1919) đã đưa ra thuật ngữ Sinh thái học (Ecology). Từ thập niên 60 của thế kỷ XX trở về sau, vấn đề môi trường sinh thái đã có được sự quan tâm thực sự của nhân loại có lương tri và tiến bộ.
Phật giáo ngay từ khi mới ra đời là tôn giáo rất chú trọng đến hệ sinh thái tự nhiên. Là một tôn giáo lớn, đạo Phật ý thức được vai trò, tầm quan trọng của môi sinh ngay từ mới sơ khai hình thành, Đức Phật luôn ca ngợi thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên. Có thể nói cỏ hoa, cây cối, con trùng, tôm cá, chim muông, sông suối đất đai, mặt trời mặt trăng, gió bão, sấm chớp đều là cơ duyên ngộ đạo của hành giả, và dần dần gắn chặt cuộc đời Đức Phật vào tự nhiên. Phật đã tu hành trong rừng sâu núi thẳm, dưới gốc cây Bồ đề nhìn thấy ánh sao mai vừa mới mọc Người đã chứng ngộ chân lí của vũ trụ.
Kiến trúc chùa chiền dung hòa với rừng núi, tôn trọng và không hủy hoại môi trường rừng; việc tu hành của Tăng nhân là sự nổ lực tìm kiếm sự thanh đạm trong cuộc sống không xâm phạm làm biến đổi đến tài nguyên thiên nhiên, thể hiện một sự cộng sinh với vạn vật. Với lối sống thanh nhã, với những hoạt động trồng cây gây rừng, trân quý nguồn tài nguyên thiên nhiên, đề xướng không sát sanh, ăn chay, phóng sinh, bảo vệ sự sống muôn loài, đây là thực tiễn trong việc giáo dục đạo đức sinh thái, bảo vệ môi trường cho tất cả nhân loại của Phật giáo. Bên cạnh đó, Phật giáo rất đề cao con người, hay nói cách khác là tiền đề xuất phát của Phật giáo là con người sống hiện hữu. Con người là trọng tâm trong học thuyết đạo đức Phật giáo.
Theo quan niệm của Phật giáo, con người phải chịu trách nhiệm về kết quả hành động của chính mình trước cuộc sống của mình và trước thiên nhiên. Trước sự phát triển vượt bậc về khoa học kĩ thuật sẽ đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của con người nhưng kéo theo đó là sự lo âu, khốn khổ với sự biến đổi bất thường của tự nhiên, môi trường sinh thái tự nhiên. Hành động của con người đã 9 Luan van mang đến tổn thương sâu nặng lên môi trường tự nhiên, tạo ra một sự đe dọa cho tương lai của xã hội. Trước những sự lo âu, sự tàn phá và biến đổi bất thường của tự nhiên, Phật giáo với triết lý từ bi, hỷ xả, khuyến khích con người hướng thiện, thay đổi lối sống, thay đổi phương pháp quản lí về trái đất và sự sống.
Điều đó sẽ thay đổi khổ nạn thành phúc đức. Phật giáo cũng đã dễ dàng đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống vị tha, bình đẳng, bác ái. Triết lý nhân sinh, đạo đức sinh thái Phật giáo phù hợp với đạo đức, lẽ sống của con người, trong đó có người Việt Nam ta, qua các thời đại lịch sử và cho đến ngày nay. Dựa trên hệ thống giáo lý của mình, đưa ra phương pháp giải thoát cho tất cả chúng sinh.
Nổ lực nắm bắt sự cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, tìm kiếm sự phát triển hài hòa giữa con người là nền tảng đảm bảo để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển. Phật giáo xây dựng đạo đức sinh thái trên cái nhìn của lịch sử, thực tiễn của nhân loại, nhằm tìm kiếm sự giải thoát. Nguồn gốc, cơ sở về nhận thức, tư tưởng Đạo Phật là một tôn giáo mang dấu ấn đặc sắc riêng. Những tư tưởng đạo đức sinh thái Phật giáo được hình thành trong suốt lịch sử phát triển của tôn giáo này.
Là một học thuyết triết học nhân sinh, Phật giáo đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về môi trường sinh thái. Biểu hiện thông qua lối sống và ý thức chi phối các hoạt động thực tiễn như: Ăn chay, niệm Phật, không sát sinh, hài hòa hòa quyện với thiên nhiên, được quy định trong các giới khi quy y tam bảo- quay về chổ sáng, giác ngộ, giải thoát, hành động theo con đường Phật dạy, tuân theo giáo pháp của Phật trở thành con Phật, … Những tư tưởng đạo đức sinh thái Phật giáo được hình thành, hoàn thiện và phát triển cùng với thực tiễn xã hội. Và dựa trên hệ thống các luận thuyết chủ yếu của Phật giáo có từ thời Phật giáo nguyên thủy, như: Thuyết Duyên khởi, thuyết Vạn vật bình đẳng và thuyết Nhân quả. Thuyết Duyên khởi Trong kinh Phật Tự Thuyết, Đức Phật có nói: “Vì cái này có, cái kia có.
Vì cái này sinh, cái kia sinh. Vì cái này không, cái kia không. Vì cái này diệt, cái kia diệt. Bốn câu trên cho thấy sự liên hệ, nối kết với nhau trong sự hiện hữu liên tục của mọi sự vật.
Cái này, cái kia tạo thành một chỉnh thể không thể chia cắt 10 Luan van được, sự tồn tại hay không tồn tại của một sự vật được quyết định bởi điều kiện. Căn cứ vào những nguyên tắc này mà thuyết Duyên khởi được thành lập. Quan niệm về Duyên khởi của Đức phật cho rằng toàn thế giới là một chỉnh thể thống nhất, quan hệ khắn khít chồng chéo vào nhau. Xoay quanh 12 nhân duyên, hay 12 chi hoặc gọi là 12 mắt xích liên kết với nhau như sợi dây chuyền không thể chia cắt.
Cái mắc xích này là nhân tạo ra quả là cái mắt xích kia nhờ duyên là điều kiện, năng lực xúc tác. Hay nói dễ hiểu hơn là cái này là duyên để cái kia tồn tại, vạn vật trong thế giới này vì thế mà tồn tại đa dạng và sống động. Duyên khởi luận là thế giới quan độc đáo của Đạo Phật. Duyên khởi luận đại khái cho rằng sự tồn tại và hủy diệt của thế giới do sự hình thành và tan rã của các điều kiện, “Có nhân có duyên thế gian tập thành; có nhân có duyên thế gian hủy diệt”.
Nói cách khác mọi thứ trong vũ trụ đều được kết nối bằng sợi dây nhân duyên.236] Hay nói rõ hơn, học thuyết Duyên khởi cho chúng ta biết mọi sự hiện hữu trên thế giới đều là sự kết hợp của rất nhiều nhân duyên. Chúng không thể tồn tại độc lập mà nương tượng với nhau trong mối tương quan mật thiết. Thuyết Duyên khởi được diễn tả qua một tiến trình “Nhân - Duyên - Quả”. Mọi sự vật kế tiếp liên tục để sinh khởi, cái này có thì cái kia có; hay cái này sinh dẫn đến cái kia sinh.
Không có cái gì hiện hữu độc lập, mọi thứ đều liên kết tùy thuộc vào nhau. Cái này là hổ tương của cái kia và ngược lại. Nếu chẳng may một cái mất đi sẽ kéo theo sự mất đi hoặc biến đổi hoặc xáo trộn của cái khác. Trong đạo Phật khi nhìn nhận các sự vật dưới con mắt của quan niệm về “Tứ đại” thì thuyết duyên khởi một lần nữa được chứng thực một cách cụ thể và khoa học.
Tứ đại là đất (Pathari), nước (Apo), gió (Vayo), lửa (Tejo) 4 yếu tố cấu thành nên bất cứ vạn vật nào trong vũ trụ này. Con người nhân duyên sinh thành từ tứ đại, lục căn đầy đủ cũng nhờ sự liên kết của tứ đại. Xét trên chính cơ thể con người chúng ta: xương, thịt, da, lông, tóc,… đó là chất rắn; máu, dịch,… là chất lỏng; hơi thở lưu thông là chất khí; thân nhiệt, hơi ấm là lửa. Bốn yếu tố này như một mắc xích tạo thành một con người hài hòa, từ đó sinh thức, bắt đầu có cảm nhận, suy nghĩ, ý thức và hình thành tri thức.
Duyên khởi vừa là điểm bắt đầu nhưng cũng là điểm cuối của hành trình đi đến “Giải thoát”.