MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục tƣ tƣởng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong công tác tƣ tƣởng, nhằm đƣa đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc thấm nhuần vào nhận thức nhân dân, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nƣớc, ý chí tự lực, tự cƣờng, tính chủ động, sáng tạo của quần chúng, tạo nên sự thống nhất, đồng thuận cao trong xã hội. Trong mỗi thời kỳ lịch sử nhất định của dân tộc, thực tiễn đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ giáo dục tƣ tƣởng có tính chất đặc thù, nội dung giáo dục có những biến đổi cho phù hợp điều kiện phát triển của xã hội. Công cuộc đổi mới để phát triển đất nƣớc hiện nay đòi hỏi nội dung giáo dục tƣ tƣởng rất phong phú, đa dạng, trong đó có nội dung giáo dục về YTBVMT – một vấn đề vừa có tính thời sự, vừa cấp bách không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới.
Hiện nay, ô nhiễm MT và BĐKH đang trở thành một thách thức lớn với cả nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng. BĐKH tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống con ngƣời và MT trên phạm vi toàn thế giới; làm thay đổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển và anh ninh toàn cầu nhƣ: an ninh lƣơng thực, an ninh nguồn nƣớc, đất đai, an ninh năng lƣợng,.; ảnh hƣởng đến các vấn đề an toàn xã hội, văn hóa, ngoại giao và thƣơng mại ở các quốc gia. Việt Nam đƣợc IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change - Ủy ban liên chính phủ về BĐKH) xác định là một trong năm quốc gia đang và sẽ chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất bởi BĐKH. Bức tranh ảm đạm về MT sinh thái ở nƣớc ta cũng nhƣ trên thế giới gần đây đã phản ánh rõ nét sự thiếu ý thức trách nhiệm của con ngƣời với tự nhiên.
Thái độ cực đoan và hành vi phi nhân tính của con ngƣời tàn phá MT, cho thấy YTBVMT của con ngƣời yếu kém là căn nguyên sâu xa của mọi tình trạng khủng hoảng MT toàn cầu. Để hình thành và phát triển YTBVMT, chúng ta cần phải không ngừng GDYTBVMT. Đây đƣợc xem là nhiệm vụ chính trị quan trọng, lâu dài; cần sự định hƣớng đúng đắn, thống nhất của Đảng và Nhà nƣớc, sự chung tay của cả xã hội. Tuy nhiên, suốt thời gian dài vừa qua, việc tuyên truyền GDYTBVMT để nâng cao nhận thức, điều chỉnh hành vi, thái độ ứng xử của con ngƣời trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
GDYTBVMT rất cần đƣợc xem là cái gốc cho mọi giải pháp, cần đi trƣớc, đi cùng và theo sau mọi hoạt động bảo vệ MT. Vì thế, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho nhân dân về bảo vệ MT, ứng phó với BĐKH phải ngày càng đƣợc quan tâm. Trong công tác tƣ tƣởng, nội dung GDYTBVMT cũng là một nội dung quan trọng, góp phần tích cực vào quá trình thực hiện sự lãnh đạo của Đảng ở lĩnh vực bảo vệ tài nguyên MT, chủ động ứng phó với BĐKH. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ : “Bảo vệ MT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân”[35,78].
Trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Đảng xác định: “Nâng cao YTBVMT, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ MT với phát triển kinh tế xã hội”. GDYTBVMT cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giáo dục cho thế hệ trẻ về vấn đề này có ý nghĩa to lớn. Thế hệ trẻ, trong đó có thanh niên sinh viên, là bộ phận xã hội luôn đƣợc Đảng ta quan tâm đào tạo, bồi dƣỡng. Họ sẽ trở thành lực lƣợng nòng cốt gánh vác trọng trách tƣơng lai của đất nƣớc.
Những năm qua, việc GDYTBVMT cho thanh niên sinh viên đã đƣợc thực hiện, góp phần trang bị nền tảng nhận thức, cổ vũ tinh thần nhiệt tình hăng hái của họ trong các hoạt động bảo vệ MT, vì sự phát triển bền vững, nhằm phát huy vai trò xung kích của thanh niên trên mọi mặt trận trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. GDYTBVMT cho sinh viên ở các trƣờng đại học có ý nghĩa quan trọng không chỉ với mục tiêu giáo dục toàn diện con ngƣời thế hệ mới, mà còn có thể tạo sự lan tỏa ý nghĩa giáo dục cho cả xã hội, góp phần thực hiện hiệu quả chƣơng trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Hà Nội là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nƣớc, tập trung số lƣợng lớn các trƣờng đại học và số lƣợng lớn nhất sinh viên tại đây. Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng gắn liền với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hà Nội ngày nay phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng do ô nhiễm MT, ảnh hƣởng tới những mục tiêu phát triển và đảm bảo chất lƣợng an sinh xã hội.
Trƣớc yêu cầu bức thiết của thực tiễn, công tác giáo dục và đào tạo của các nhà trƣờng nói chung và các trƣờng đại học ở Hà Nội nói riêng cần phải có nhiều đổi mới hơn nữa, chú trọng nội dung GDYTBVMT nhằm hình thành nên những thế hệ con ngƣời tích cực, biết sống có trách nhiệm với MT và xứng đáng là lực lƣợng nòng cốt của thế hệ thanh niên thời đại mới. GDYTBVMT cho sinh viên các trƣờng đại học ở Hà Nội những năm gần đây đã bƣớc đầu đƣợc quan tâm và đạt kết quả nhất định. Tuy nhiên, những biểu hiện hạn chế trong YTBVMT của sinh viên cũng phản ánh rõ nét một thực tế rằng: việc giáo dục cho sinh viên đại học ở Hà Nội hiện nay về nội dung này vẫn còn nhiều bất cập. Quá trình giáo dục đòi hỏi phải thƣờng xuyên, liên tục và đƣợc đầu tƣ về mọi mặt, nhƣng GDYTBVMT cho sinh viên thì gặp rất nhiều khó khăn nên hiệu quả đạt đƣợc chƣa cao.
Mặc dù vậy, bất luận thế nào, việc GDYTBVMT cũng không thể bị trì hoãn trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu về GDYTBVMT cho sinh viên các trƣờng đại học trên địa bàn Hà Nội nói riêng và trên phạm vi cả nƣớc nói chung có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tìm ra giải pháp nhằm khắc phục mọi khó khăn để nâng cao hiệu quả GDYTBVMT cho sinh viên nƣớc ta, góp phần xây dựng một lực lƣợng xã hội tích cực trong lĩnh vực bảo vệ MT, chủ động ứng phó với BĐKH. Hiện có rất ít công trình nghiên cứu sâu về hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên đại học. Đặc biệt lĩnh vực về GDYTBVMT cho sinh viên đại học trên địa bàn Hà Nội theo góc độ tiếp cận của khoa học công tác tƣ tƣởng thì còn nhiều nội dung lớn phải đƣợc nghiên cứu một cách nghiêm túc và toàn diện cả lý luận lẫn thực tiễn, nhằm làm rõ hơn nữa về vị trí và vai trò của GDYTBVMT cho sinh viên trong công tác tƣ tƣởng hiện nay.
Do đó, tác giả chọn vấn đề “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận án. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận của GDYTBVMT cho sinh viên đại học. Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng YTBVMT và thực trạng GDYTBVMT cho sinh viên các trƣờng đại học ở Hà Nội, luận án đề xuất một số quan điểm định hƣớng và giải pháp nhằm tăng cƣờng GDYTBVMT cho sinh viên hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt mục đích nêu trên, tác giả luận án cần thực hiện nhiệm vụ: + Tổng quan các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nƣớc có liên quan đến đề tài, để từ đó xác định hƣớng nghiên cứu của luận án. + Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận về GDYTBVMT cho sinh viên đại học, tầm quan trọng của GDYTBVMT cho sinh viên trong bối cảnh BĐKH trên thế giới và Việt Nam hiện nay + Khảo sát thực trạng GDYTBVMT cho sinh viên và đánh giá thực trạng YTBVMT của sinh viên các trƣờng đại học ở Hà Nội hiện nay (qua khảo sát 6 trƣờng đại học đại diện ở Hà Nội); từ đó khái quát những vấn đề đặt ra đối với hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên. + Đề xuất một số quan điểm định hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cƣờng GDYTBVMT cho sinh viên đại học ở Hà Nội hiện nay 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề GDYTBVMT cho sinh viên các trƣờng đại học ở Hà Nội hiện nay - Phạm vi nghiên cứu + Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án: GDYTBVMT cho sinh viên các trƣờng đại học ở Hà Nội hiện nay.
+ Đối tƣợng và phạm vi khảo sát: cán bộ và sinh viên hệ chính quy 6 trƣờng đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (Đại học Thủy Lợi, Học viện Quản lý giáo dục, Học viện Tài chính, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội). Đây là các trƣờng đại học đại diện cho nhiều khối ngành đào tạo (ngành kỹ thuật, ngành kinh tế, ngành khoa học quản lý, khoa học xã hội nhân văn, quân sự); đồng thời đại điện cho các khối trƣờng: công lập và ngoài công lập; khối dân sự và lực lƣợng vũ trang. + Thời gian khảo sát: từ năm học 2013-2014 đến nay. Thời gian khảo sát tính từ thời điểm luận án bắt đầu đƣợc thực hiện để có đƣợc số liệu cập nhật.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng bổ sung tƣ liệu đƣợc thu thập trong 10 năm gần đây từ 2008 đến 2018 về các trƣờng đại học. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu 4. Cơ sở lý luận Cơ sở lý luận của luận án là các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, sinh viên. Đồng thời, luận án cũng dựa trên các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc; một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong và ngoài nƣớc về vấn đề giáo dục và GDYTBVMT cho thanh niên, sinh viên.