CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG 1.1 Tổng quan về an toàn giao thông trên thế giới 1.1 Khái quát về tình hình TNGT trên thế giới. Trong thế kỷ XX chúng ta đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng mặt của các loại phương tiện giao thông. Từ những phương tiện giao thông thô sơ, ngày nay thế giới có hàng tỷ phương tiện giao thông các loại, từ xe đạp, xe gắn máy, ô tô cho tới những chiếc máy bay hiện đại. Đi đôi với sự gia tăng của các phương tiện thì nguy cơ xảy ra TNGT cũng tăng rất nghiêm trọng.
TNGTĐB nghiêm trọng tới mức Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết A/RES/64/255 ngày 02/3/2010 tuyên bố giai đoạn 2011- 2020 là “Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ”. TNGT ĐB là nguyên nhân gây ra cái chết khoảng 1,25 triệu người trên thế giới chết, 50 triệu người khác bị thương tật suốt đời vì TNGTĐB. Trong đó ở châu Phi là 246.719 người; khu vực Đông Địa Trung Hải là 122.730; phía tây Thái Bình Dương là 328.591 người; khu vực Đông Nam Á là 316.080 người; châu Mỹ là 153.789 người và châu Âu là 84. Nếu không có những biện pháp phòng ngừa, TNGTĐB được dự đoán sẽ dẫn đến cái chết của khoảng 1,9 triệu người vào năm 2020.
TNGTĐB gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho nạn nhân, gia đình của họ và các quốc gia như chi phí điều trị, giảm hoặc mất khả năng lao động của người bị TNGT. Theo ước tính năm 2000, tổn thất về kinh tế do TNGTĐB bộ mà các quốc gia trên Thế giới phải gánh chịu là gần 518 tỷ USD. Báo cáo của WHO cũng nhấn mạnh rằng, người sử dụng phương tiện giao thông đường bộ khắp nơi trên thế giới được bảo vệ khi tham gia giao thông cũng không giống nhau. Nguy cơ xảy ra TNGTĐB phụ thuộc phần lớn vào hạ tầng đường bộ của mỗi Quốc gia.
Có trên 90% tai nạn xảy ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, nơi chỉ có 54% phương tiện giao thông trên thế giới. 1 Biểu đồ tỷ lệ người tử vong do TNGT/10.000 phương tiện [Nguồn:Viện chiến lược và phát triển giao thông vận tải] Từ hình 1.1, ta thấy Myanma (15,67), Campuachia (10,01) là những nước có tỷ lệ người tư vong do TNGT/10.000 phương tiện lớn nhất thế giới và Nhật (0,73), Anh (0,96) là những nước có tỷ lệ người tử vong do TNGT/10.000 phương tiện ít nhất thế giới. Hiện nay trên thế giới, trung bình mỗi ngày có hơn 3.000 người chết do TNGT, trong đó có hơn 500 trẻ em. Tính ra, cứ 30 giây lại có một người chết, 3 phút lại có một trẻ em chết vì TNGTĐB và 59% số người thiệt mạng trong TNGTĐB ở độ tuổi từ 15÷44 tuổi và 77% là nam giới, 27% số người tử vong do TNGTĐB là người đi bộ và đi xe đạp chủ yếu xảy ra ở các nước có thu nhập thấp hoặc các nước thu nhập trung bình.
Tỷ lệ trung bình là 17,4/ 100.000 dân, ở các Quốc gia có thu nhập thấp tỷ lệ này ở mức 24,1/100.000 dân, trong khi tỷ lệ ở các nước có thu nhập cao là thấp nhất ở mức 9,2/100. Nguy cơ xãy ra TNGTĐB cao nhất là ở khu vực châu Phi và thấp nhất là ở các nước châu Âu. 2 Biểu đồ tỷ lệ người tử vong do TNGT/10.000 dân ở một số nước trên thế giới. [Nguồn: Viện chiến lược và phát triển giao thông vận tải] Từ số liệu của hình 1.2, ta thấy Malaysia và Nga là hai Quốc gia có tỷ lệ người tử vong do TNGT/10.000 dân nhiều nhất thế giới.
Theo các báo cáo thống kê của cảnh sát đường bộ thuộc Bộ Nội vụ Nga cho biết trung bình hằng năm tại Nga có hơn 28.323 người thiệt mạng và hơn 25.000 người bị thương trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015. 3 Biểu đồ số lượng người tử vong do tai nạn giao thông tại Liên bang Nga từ năm 2006 – 2015. [Nguồn: Sưu tâm trên Internet] 7 Từ biểu đồ trên, ta biết được số liệu cụ thể số lượng người tử vong do tai nạn giao thông mỗi năm tại Liên bang Nga giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015.652 người đã thiệt mạng trong các vụ tai nạn xe cơ giới. Số lượng người thiệt mạng nhiều nhất trong thời gian này xảy ra trong năm 2007 (33.308 người), số lượng người thiệt mạng ít nhất là trong năm 2015 (23.
Từ đó ta cũng có thể thấy bằng nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục tình trạng TNGT, thì số người chết do TNGT ở Nga có xu hướng giảm mạnh.2 Tình hình tai nạn giao thông ở các nước trong khu vưc Đông Nam Á. Đông Nam Á là một khu vực của châu Á, bao gồm các nước nằm ở phía nam Trung Quốc, phía đông Ấn Độ và phía bắc của Úc, rộng khoãng 4.000 km2, dân số 568.000 người và bao gồm 11 quốc gia: Việt Nam; Lào; Malaysia; Myanma; Philippines; Thái Lan; Timor Leste; Singapor; Indonesia, Campuchia và Brunei. Hầu hết các Quốc gia Đông Nam Á đều gia nhập ASEAN trừ Timor Leste. Đông Nam Á nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải.
Vì thế nó được gọi là một ngã tư cho hoạt động thương mại quốc tế [9]. Hầu hết, Đông Nam Á là khu vực tập trung các nước đang phát triển, trong những năm gần đây cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện đáng kể nhưng vẫn không đáp ứng kịp thời sự phát triển của các phương tiện tham gia giao thông. Do đó tình trạng ùn tắc giao thông xãy ra hầu hết ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Jakarta, Bangkok, … Đặc biệt là TNGT xãy ra ngày càng nhiều số người chết ngày càng tăng, đứng đầu là Indonesia tiếp theo là Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Philippines. Các nước có số người chết vì TNGT ít là Singapor và Brunei.1 TNGT ĐB các nước khu vực Đông Nam Á năm 2013[Nguồn: Số liệu báo cáo của WHO năm 2013] Tổng số TL chết TL chết/100.000 STT Quốc gia Dân số người chết /100.000 dân phương tiện 1 Brunei 453.5 55 Theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển châu Á, TNGT làm khu vực ASEAN tổn thất 15 tỷ USD mỗi năm.
Ở các nước nghèo nhất khu vực như: Myanma, Campuchia và Lào tổn thất do tai nạn giao thông gây ra chiếm tới 2-3% GDP. Tỷ lệ tử vong/100.000 dân ở Thái Lan, Việt Nam và Malaysia lớn hơn nhiều so với Singapor (3,6). Tỷ lệ tỷ vong/100.000 dân ở Singapor tương đương với các Quốc gia phát triển về cơ sở hạ tầng trên thế giới như Hà Lan (3,4) và Anh (2,9). TimorLeste, Myanma và Campuchia có tỷ lệ tử vong/100.000 phương tiện lớn nhất khu vực.1 Tình hình TNGT ở Indonesia [16].
Indonesia là quốc gia có đông dân nhất khu vực Đông Nam Á và được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình. Nền kinh tế Indonesia đứng thứ 5 trong khu vực ASEAN với GDP bình quân đầu người là 9. Indonesia có mạng lưới đường bộ 503.604 km trong đó có 89,9% được trải nhựa và 976 km đường cao tốc. Từ năm 2005, số người chết vì TNGT ở Indonesia có xu hướng tăng lên với tỷ lệ nam giới chiếm 78%.
Nhóm người có tỷ lệ tử vong cao nhất là người 9 điều khiển xe máy và xe ba bánh là 36%, nhóm người lái xe buýt và xe khách là 35% và nhóm người đi bộ là 21%. Trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2015, Indonesia đã liên tục có nhiều chương trình nhằm góp phần giảm số vụ TNGT trong cả nước cụ thể như: khám sức khỏe miễn phí cho các tài xế lái xe buýt trong cả nước, tuyên truyền, giáo dục lái xe an toàn cho học sinh, sinh viên trong trường học. Những chương trình này đã góp phần đánh kể vào việc cải thiện an toàn giao thông đường bộ ở Indonesia. Trong năm 2015, tỷ lệ tử vong/10.000 xe là 2,54 thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 2011-2015 là 3,14.
Số lượng người tử vong giảm 6,3% từ 28.297 người (năm 2014) xuống còn 26. Trong khi số vụ TNGT ĐB dẫn đến tai nạn nhẹ hoặc nghiêm trọng lại tăng từ 95.601 người trong năm 2014 lên 98.970 người vào năm 2015. Nhằm giảm tối đa số vụ tai nạn giao thông trong nước, Indonesia đã sử dụng tiền tài trợ của các tổ chức ngoài nước và một phần ngân sách trong nước để xây dựng nhiều chương trình hành động chiến lược an toàn giao thông đường bộ nhằm mục tiêu giảm số ca tử vong do TNGT đến mức có thể. Xây dựng một khuôn khổ pháp lý cho các chương trình kiểm toán an toàn đường bộ ở tác cả các giai đoạn xây dựng (từ khâu thiết kế đến giai đoạn vận hành khai thác).
Kiểm tra lại tất cả các tuyến đường hiện có từ đó đánh giá khả năng khai thác của từng tuyến đường để đưa ra các phương pháp xử lý cụ thể. Đặc biệt, Indonesia có các chính sách quốc gia để khuyến khích đầu tư vào giao thông công cộng, đi bộ và đi xe đạp.2 Tình hình TNGT ở Thái Lan [16]. Thái Lan là quốc gia có dân số đông nhì khu vực Đông Nam Á, thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao của khu vực. Nền kinh tế của Thái Lan đứng thứ 4 của khu vực ASEAN với GDP bình quân đầu người là 14.
Thái Lan có mạng lưới đường bộ dài 180.053 km và mạng lưới đường cao tốc dài 450 km. Giao thông tại Thái Lan khá đa dạng và hỗn loạn, không có một phương tiện vận tải nào chiếm ưu thế. Xe buýt chiếm ưu thế ở khoảng cách xa và ở Bangkok, còn xe máy thống trị ở các khu vực nông thôn cho các chuyến đi ngắn, thay cho xe đạp. Cùng với mức tăng trưởng nhanh chóng của ô tô cá nhân được sử dụng ngày càng nhiều đặc biệt trong tầng lớp thượng lưu và tầng lớp trung lưu đã 10 góp phần vào tình trạng tắc nghẽn giao thông nổi tiếng của Bangkok trong hai thập kỷ qua.
Một mạng lưới đường ô tô trên khắp Thái Lan đã từng bước được hoàn thiện, với đường cao tốc hoàn thành nối Bangkok và hầu hết các tỉnh miền trung Thái Lan. Đi đôi với sự tăng nhanh về số phương tiện tham gia giao thông thì số vụ TNGT cũng ngày càng nhiều. Theo số liệu thống thì trong năm 2010 ở Thái Lan có 13.766 trường hợp tự vong vì TNGT chiếm 3%GDP trong đó nam giới chiếm 79%. Kể từ năm 2007, số ca tử vong do TNGT ở Thái Lan có xu hướng giảm.