Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG SINH LÝ BÀN TAY 1. Giải phẫu bàn tay 1. Da, mô dưới da vùng bàn tay Bàn tay giới hạn từ nếp gấp cổ tay xa nhất đến đầu các ngón tay, được chia làm 2 phần: gan tay và mu tay. Lớp nông gan tay: Gồm da và tổ chức dưới da, mạch và thần kinh nông, mạc nông [13.
Lớp sâu và các ô gan tay: Mạc giữ gân gấp cùng với các xương cổ tay tạo thành một ống xương-xơ gọi là ống cổ tay [13. Mu tay: Cấu tạo từ nông vào sâu mu tay có: da mỏng, di động và không có mỡ, tổ chức tế bào dưới da mỏng và nhão. Hệ xương, cân và dây chằng vùng cổ tay bàn tay Hệ xương: Cổ bàn tay có tất cả 27 xương, riêng bàn tay có 19 xương và 19 khớp. Vùng cổ tay có 8 xương xếp thành 2 hàng.
Xương đốt bàn gồm 5 xương, xương đốt ngón tay có tất cả 14 xương: ngón cái có 2 đốt, còn các ngón còn lại có tất cả 3 đốt [14. Cân gan tay (Aponeaurosis palmaris): Gân cơ gan tay dài bắt chéo phía trước mạc giữ gân gấp, đến gan tay chia làm 4 dải rộng đến nền 4 ngón tay. Bao xơ ngón tay (vaginae fibrosae digitorum manus): Phía trước mỗi ngón tay, cân gan tay liên tục với bao xơ ngón tay [14. Mạc mu tay: Mạc mu tay: mạc mu tay mỏng, chắc.
Ở trên liên tiếp với mạc hãm gân duỗi, ở dưới phủ và hòa vào các gân duỗi, hai bên dính vào đốt bàn tay 1 và 5 [13. Hệ gân, cơ Các cơ mô cái: Cơ dạng ngắn ngón cái, cơ gấp ngắn ngón cái, cơ đối chiếu ngón cái, cơ khép ngón cái, 4 cơ mô út, 4 cơ giun, và 8 cơ gian cốt [13. Các gân bàn tay: Bao gồm 4 gân gấp các ngón nông, 4 gân gấp sâu và các các gân duỗi. Cung động mạch gan tay sâu Nguồn: Todd R.] Máu ở bàn tay được cung cấp bởi động mạch trụ và động mạch quay, 2 động mạch này tạo nên 3 vòng nối: 2 vòng nối ở gan tay và một vòng nối ở mu tay.
Cung động mạch gan tay gồm cung động mạch gan tay nông (Arcus palmaris superficialis) và cung động mạch gan tay sâu (Arcus palmaris profundus). Cung động mạch mu tay do nhánh mu cổ tay 2 động mạch quay và trụ nối với nhau [13. Thần kinh Bàn tay được chi phối bởi thần kinh trụ, thần kinh giữa và thần kinh quay [13. Chức năng sinh lý bàn tay Bàn tay có hai chức năng chính: Chức năng cảm giác và chức năng vận động.
Chẩn đoán chức năng cảm giác của bàn tay dựa trên việc khảo sát các vùng cảm giác được phân chia giải phẫu để dánh giá hoạt động của thần kinh cảm giác thuộc nhánh của thần kinh trụ, thần kinh giữa hay thần kinh quay. Đánh giá biên độ vận động ROM (Range of motion) của các khớp trước và sau mổ là những yếu tố quan trọng để đánh giá kết quả phục hồi chức năng sau phẫu thuật. Biên độ vận động bình thường của khớp cổ tay là 1500 và khớp bàn ngón là 1200 [16. Đánh giá vận động bàn tay dựa trên động tác cầm nắm của bàn tay bao gồm 2 vấn đề: -Sức cầm nắm (power grip): Được thể hiện bởi động tác nắm đồ vật, động tác này cần sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa khớp của các ngón tay, khớp bàn ngón và ngón cái.
-Sự chính xác của thao tác cầm nắm (precision grip): Là sự chuẩn xác của động tác kẹp đồ vật giữa ngón cái và các ngón khác. Nói khác đi là sự bấm chính xác giữa ngón cái lên các ngón còn lại khi kẹp đồ vật ở giữa các ngón này. Trong quá trình thực hiện các động tác này, thường khớp cổ tay cũng phối hợp tham gia [18. BỎNG BÀN TAY 1.
Bỏng sâu bàn tay Ở Việt Nam tỉ lệ bòng bàn tay chiếm 42,2% [27.], ở vết thương bỏng sâu cần phẫu thuật cắt lọc hoại tử và ghép da [28. Mặc dù 2 bàn tay chỉ chiếm 5% diện tích cơ thể, nhưng bỏng bàn tay là một trong những loại bỏng khó điều trị nhất. Bàn tay là một cơ quan lao động có những cử động tinh vi nhất với những động tác hợp đồng hài hòa có ý thức cũng như do thói quen. Ở 6 mu bàn tay, lớp mô tế bào phân cách giữa da mu và các phần ở sâu bảo đảm cho sự di động của lớp da mu.
Khi bỏng trung bì hay bỏng sâu dưới da mu tay, nếu không được ghép da kịp thời sẽ gây sẹo xơ co kéo làm các ngón tay ở tư thế duỗi quá mức về phía sau. Bỏng sâu da mu thường gây lộ gân, bao khớp dẫn đến các biến chứng như hoại tử gân, viêm khớp và các di chứng như các dây chằng bị co kéo, bao khớp bị xơ hóa hoặc hoại từ, dính khớp, cứng khớp, sai khớp. Do các đặc điểm kể trên nên bỏng bàn tay phải được chú ý đặc biệt và phải được điều trị theo những nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc điều trị: Phục hồi tác dụng là chính đi đôi với phục hồi hình thể.
Việc cứu sống tính mạng người bị bỏng được đặt lên hàng đầu. Việc điều trị bỏng bàn tay tiến hành từng bước phù hợp công tác điều trị toàn thân. Điều trị bỏng bàn tay cần chống phù nề, viêm, nhiễm khuẩn, tích cực xử trí phẫu thuật sớm ở bỏng sâu: rạch hoại tử, cắt lọc hoại tử, ghép da… Băng và để các khớp ở tư thế tác dụng thích hợp, tập vận động sớm [24. Cố gắng bảo tồn chức năng bàn tay.
Điều quan trọng nhất là duy trì chức năng của các khớp nhỏ, đặc biệt là sự vận động của các khớp bàn ngón. Bỏng sâu toàn bộ lớp da có liên quan đến gân duỗi, bao khớp và xương chiếm 5% trong bỏng bàn tay. Nhưng qua mô tả ở các y văn, kết quả điều trị của những bệnh nhân này rất nghèo nàn bất chấp các phương pháp điều trị [28. Tập vật lý trị liệu và phục hồi chức năng sau mổ Nguyên tắc chung: Các động tác vận động cần thực hiện chậm, nhẹ nhàng và đều đặn.
Không nên dùng lực cưỡng bức khớp vì dễ gây tổn thương khớp. Tập từng khớp trong một thời gian nhất định và theo một thứ tự nhất định, chương trình tập vận động chi trên được thực hiện bao gồm 3 phương pháp: Tập vận động thụ động. Tập vận động có trợ giúp. Tập vận động chủ động [16.
ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG BỎNG SÂU CHI TRÊN 1. Bỏng sâu chi trên Bỏng chi trên nói chung hay bỏng bàn tay nói riêng là tai nạn xảy ra khá phổ biến chiếm tỉ lệ 50% các trường hợp bị bỏng [20. Có đến 51,1% bệnh nhân bị bỏng có vị trí bỏng liên quan đến chi trên, về độ sâu của vết thương bỏng có khoảng 29% bỏng độ 2, 3 liên quan đến chi trên [21. Di chứng bỏng sâu gây biến dạng chi trên do co rút khuỷu, bàn tay là di chứng rất phổ biến, tỉ lệ có thể lên đến 39% các trường hợp bị bỏng [20.
Bỏng sâu chi trên có thể gặp do nhiều nguyên nhân, nhưng bỏng chi trên gây lộ gân, xương, khớp… chủ yếu gặp các trường hợp bỏng do tác nhân bỏng điện năng và nhiệt khô như lửa xăng, trục lăn nóng ép vào tay… Từ năm 1753, 1764, 1879 đã có những báo cáo về luồng điện giật gây tử vong cho các nhà vật lý chế tạo máy điện. Năm 1920, Prevost, Batelli, Fellincl, Faffe đã nghiên cứu ảnh hưởng của luồng điện khi dẫn truyền qua cơ thể người (Trích theo Lê Thế trung [24. Ở trẻ em thường bị bỏng điện gia dụng, trong khi đó người lớn chủ yếu là bỏng điện cao thế [22. Bỏng do điện năng chia làm 2 loại: bỏng do tia lửa điện và bỏng do luồng điện [22.
Tổn thương do luồng điện rộng hơn nhiều so với những tổn thương nhìn thấy trên da. Bỏng vùng cổ tay, bàn tay chiếm tỉ lệ 75,1%. Bệnh nhân bị bỏng điện có điểm vào của dòng điện ở tay và điểm ra ở chân chiếm 89,55%. Tỉ lệ cắt cụt chi trên do bỏng điện là 26% [25.
Điều trị bỏng sâu chi trên Điều trị tại chỗ các vết thương bỏng sâu chi trên nói chung hay tổn thương do dòng điện nói riêng thường trải qua các quá trình: rạch giải áp nếu có hiện tượng chèn ép khoang, cắt lọc hoại tử làm sạch vết thương và che phủ tổn khuyết mô mềm và phục hồi chức năng. 8 Rạch giải áp do chèn ép khoang Dùng dao rạch đám hoại tử dọc theo chiều dài của chi qua lớp da, tới lớp mỡ và tới lớp cân. Nếu cơ cũng bị hoại tử thì rạch cho đến lớp cơ lành, tách miệng vết rạch rộng ra 1 đến 2cm để thoát dịch phù [24. Cắt lọc hoại tử bỏng Wilms M.
(1903) đã đề xuất loại phẫu thuật này để điều trị bỏng sâu, đặc biệt là bỏng sâu do điện (Weells D. Sau đó Lawen (1935) đã đề xuất cắt bỏ hoại tử sớm ở mu bàn tay và ghép da mỏng [24. Một nguyên tắc trong che phủ tổn khuyết mô mềm là che phủ càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, không có nghĩa là phải che phủ ngay lúc chấn thương [26.
Che phủ tổn khuyết mô mềm Đối với các vết bỏng sâu không có lộ gân, xương, mạch máu, thần kinh thì ghép da là công cụ chủ lực để che phủ trong điều trị tái tạo lại chi trên sau bỏng. Tuy nhiên, da ghép da có xu hướng co rút sau đó [5. Đối với các tổn khuyết có lộ gân, xương, mạch máu, thần kinh thì dùng các vạt da che phủ là thích hợp nhất. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH CỦA SẸO 1.
Lâm sàng và Giải phẫu bệnh của sẹo Sẹo xơ: là sẹo có bề mặt bằng với mặt da lành lặn lân cận, sờ chắc cứng không mềm mại. Sẹo phì đại: trong quá trình làm lành vết thương, cơ thể hình thành các sợi collagen mới tương đương với lượng collagen đã mất đi. Sự sản sinh quá mức lượng collagen sẽ tạo ra sẹo phì đại hay sẹo lồi. Về lâm sàng, sẹo phì đại dày gồ to lên so với da bình thường lân cận, lớp biểu mô phủ mỏng, không có xu hướng vượt quá giới hạn của vết thương ban đầu, dù vẫn có thể tiếp tục lồi 9 lên thêm.
Trong một số trường hợp, sẹo sẽ tự cải thiện hình dáng ổn định sau một thời gian [29. Sẹo lồi: Được mô tả đầu tiên trên giấy cói của người Ai Cập năm 1700 trước công nguyên.