Chương 1 TỔNG QUAN Hình thái giải phẫu cơ thể người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố phức tạp khác nhau. Sinh ra và lớn lên trong các điều kiện địa lý, sinh thái, tập quán sinh hoạt khác nhau, cơ thể của con người, trong đó đặc biệt là khuôn mặt có những nét đặc trưng khác nhau tạo nên các chủng tộc khác nhau. 2, 3, 4 Cảm nhận về cái đẹp không chỉ là chức năng của năm giác quan mà nó còn bị chi phối rất nhiều bởi tâm lý, tình cảm và trí tuệ… Tuy nhiên, những yếu tố này lại “không ai giống ai”. Ngoài ra, cái đẹp lại chịu sự chi phối của các giá trị văn hóa khác nhau, mang đặc điểm riêng của từng vùng miền, từng chủng tộc.5 Vì vậy, để định giá được cái đẹp, sự hài hòa là không hề dễ dàng.
Một người được xem là đẹp và thu hút người khác phải đạt các chuẩn mực nhất định. Dù bạn thuộc nền văn hoá nào, ở đâu, bạn là ai, thì khi ngắm nhìn, bạn cũng đều thấy đẹp, vấn đề chỉ là đẹp nhiều hay đẹp ít mà thôi. Hai trong số những nụ cười được công nhận là đẹp nhất thế giới hiện nay: Bradley Cooper và Angelina Jolie 6 Vậy, “những tiêu chí khách quan về cái đẹp”, “những thang giá trị riêng được đa số thừa nhận” là gì? có định lượng được không? Câu trả lời là có. Đó chính là định lượng cái đẹp thông qua các phép đo đạc trên cơ thể mà ta quen gọi là “nhân trắc”.
Nhân trắc học là một ngành khoa học nghiên cứu về các phương pháp đo trên cơ thể người và sử dụng các thuật toán để phân tích những luan an 4 kết quả đo được nhằm tìm hiểu quy luật về sự phát triển hình thái người, từ đó tìm ra những đặc trưng số lượng về những biến dị của các cá thể tuỳ thuộc vào giới tính, lứa tuổi, dân tộc, nghề nghiệp cũng như các yếu tố tự nhiên khác. Khoa học nhân trắc được hình thành và phát triển song song với lịch sử phát triển của nhân học, là cơ sở khoa học nhằm đánh giá khách quan vẻ đẹp của cơ thể và khả năng thích ứng của con người với môi trường sống. Lịch sử nghiên cứu nụ cười Cười là một phản ứng của loài người, là hành động thể hiện trạng thái cảm xúc thoải mái, vui mừng, đồng thuận hay cố tình tạo cho người đối diện hiểu là mình có cảm xúc ấy. Có khi cười còn là tâm trạng khi xúc động hoặc còn sử dụng phổ biến trong giao thiệp hàng ngày.
Một nụ cười đẹp là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một khuôn mặt đẹp, một con người đẹp. Bộ não con người là một tổ chức hoạt động hết sức tinh vi, nó thu nhận, lưu trữ thông tin; đồng thời phân tích, xử lý và tổng hợp lại để có thể sử dụng lại khi cần. Những tiêu chuẩn về cái đẹp thực chất là sự hoàn thiện và đối chiếu so sánh những gì mà mỗi người đã thấy và trải nghiệm. Những quan niệm, tiêu chuẩn về cái đẹp thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các nền văn hóa.
Tuy nhiên, một nụ cười hài hòa, hấp hẫn thì vẫn luôn được xem là một trong những tiêu chí quan trọng nhất của thẩm mỹ con người ở hầu hết các nền văn hóa, khu vực địa lý hay các xu thế thẩm mỹ. 7 Darwin được cho là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu nụ cười. Trong cuốn Expression of the Emotions in Man and Animals (Biểu hiện cảm xúc ở người và động vật – 1872), ông cho rằng, cười là bản năng có sẵn và là kết quả của quá trình tiến hóa của loài người, chứ không phải của văn hóa.2: Ngay từ khi sinh ra, con người đã có phản xạ cười.9 luan an 5 Theo Tiến sĩ David Holmes – Khoa Tâm lý học, Đại học Manchester Metropolitan, nụ cười ở người vốn bắt nguồn từ hành động nhe răng gây hấn ở động vật 10. Ông phân tích trên bộ linh trưởng: hành động nguyên thủy của nụ cười của người tương tự như một con khỉ, vượn nhe răng, banh hàm, căng các cơ mặt và cơ cổ họng của nó lên.
Đây là hành động chuẩn bị chiến đấu hay sợ hãi khi rơi vào tình thế nguy hiểm. Dần dần, ở các loài linh trưởng bậc cao hơn như khỉ nâu Rhesus, biểu cảm trên có ở những con khỉ yếu thế hơn thể hiện sự khuất phục với con khỉ có vị trí cao hơn trong đàn. Sau đó, ý nghĩa thù địch biến mất và tinh tinh - họ hàng gần nhất với chúng ta, sau hành động trên, chúng thường ôm ghì lấy nhau để thể hiện sự thân thiện. Nụ cười của con người tiến hóa từ hành động nhe răng gây hấn của động vật 10 Như vậy, theo thời gian, nụ cười đã tiến hóa để đạt đến chuẩn mực hoàn hảo ở con người để biểu lộ cảm xúc và truyền đạt thông tin trong giao tiếp; Và cũng có thể khẳng định rằng: Trong giới động vật, chỉ có con người mới có khả năng “cười” một cách đúng nghĩa.
Chỉ một sự thay đổi nhỏ trong nụ cười, con người có thể truyền đạt những thông điệp, cảm xúc khác nhau. Khoảng ba thập niên gần đây, nhiều nghiên cứu được thực hiện để xác định và lượng hóa những đặc điểm của một nụ cười được xem là lý tưởng. Giải phẫu nụ cười và các yếu tố ảnh hưởng Cười là một cử động phức hợp, bắt đầu từ các giác quan. Những cảm nhận từ các giác quan: Thính giác, thị giác, xúc giác… được truyền lên não, kích thích vùng thùy thái dương trái, rồi lan dần đến vùng ngoài mặt và các cơ bắt đầu hoạt động: cơ mút co tạo ra cảm xúc của mặt, rãnh môi má xuất hiện; cơ luan an 6 cười (buccinators) và cơ gò má lớn (zygomatic major) kéo khóe môi lên cao, các răng lộ ra và co cơ quanh mi mắt (oculi orbicularis) làm khóe mắt đóng lại và tạo vết chân chim nơi khóe mắt.
Khi biên độ cười tiếp tục được mở rộng, hai hàm trên và dưới tách nhau ra và để lộ một khoảng tối giữa hai hàm còn được gọi là “khoảng âm tính” (theo Lombardi, 1973). Toàn bộ tiến trình diễn ra chỉ từ vài phần giây đến vài giây. 11 Khi xem xét nụ cười như một tổng thể của nhiều yếu tố, chúng ta thường đặc biệt quan tâm tới môi, lợi và răng (vùng quanh môi - miệng). Ngoài ra, cũng cần phải có những hiểu biết sâu sắc hơn về toàn bộ hệ thống cơ biểu hiện nét mặt, các cung bậc cảm xúc, tâm lý cũng như yếu tố thần kinh.
Khi cười, những thành phần có thể quan sát được vùng quanh môi miệng gồm:12 Môi trên (UL); Môi dưới (LL); Lợi (G); Mép môi trong (IC), Mép môi ngoài (OC); Hành lang phía má (B); Hệ thống các răng (T) Hình 1. Một số thành phần cấu tạo nên nụ cười 12 Aboucaya đã mô tả các giai đoạn khác nhau của nụ cười 13. Nụ cười có thể được chia làm 4 giai đoạn: - Vị trí nghỉ tự nhiên: là trạng thái trung bình khởi đầu. - Cười mỉm: Khóe môi bắt đầu mở rộng nhẹ sang hai bên theo chiều ngang.
Cơ mút co, tạo ra cảm xúc cho khuôn mặt, rãnh môi – má xuất hiện. - Cười răng – môi (cười gắng sức): Cơ cười và gò má lớn kéo hai khóe môi lên trên và ra ngoài, nụ cười được thành lập. Miệng hé mở, răng xuất hiện. Viền môi căng bị động do hoạt động của cơ.
Khóe mắt bắt đầu hẹp và kéo dài. Rãnh môi má lúc này rất rõ và được chia ra thành hai đoạn: đoạn chếch ngang bắt đầu từ chân cánh mũi đến ngang khoé môi, và sau đó là đoạn đứng dọc nằm giữa môi trên và má. luan an 7 - Cười to (Cười tối đa): các cơ da tham gia, đặc biệt là cơ vòng mi làm đóng khóe mắt.5: Bốn giai đoạn của nụ cười 13 1. Các yếu tố giải phẫu của nụ cười 1.
Đường cười Thuật ngữ “đường môi” hay “đường cười” dùng để mô tả mối quan hệ theo vị trí đứng dọc của môi trên và môi dưới với cung răng phía trước.14 Theo Vig và Brundo có hai loại đường cười của môi trên 15: - Đường cười cao: dẫn đến sự bộc lộ hoàn toàn phần thân răng lâm sàng và lợi liên kết của các răng trước hàm trên. Nó được gọi là “nụ cười hở lợi”. - Đường cười thấp: dẫn đến bộc lộ ít hơn 2mm thân răng cửa hàm trên. Răng cửa hàm trên đôi khi không thể nhìn thấy được trong những trường hợp nặng, được gọi là “nụ cười không răng”.
Theo Tjan, đường cười được chia ra làm ba loại 16: - Đường cười trung bình: bộc lộ từ 75% tới 100% kích thước thân răng và nhú lợi (chiếm tỷ lệ khoảng 70% dân số). - Đường cười thấp: bộc lộ ít hơn 75% thân răng (khoảng 20% dân số). - Đường cười cao (Nụ cười hở lợi): bộc lộ toàn bộ thân răng và một phần của lợi viền (khoảng 10% dân số). luan an 8 A B C Hình 1.
Đường cười 16 A - Đường cười cao; B - Đường cười trung bình; C - Đường cười thấp Marie- Françoise Liébart và cộng sự chia đường cười làm 4 loại 17: - Loại 1 (Đường cười rất cao): thấy hơn 2 mm lợi viền hoặc hơn 2 mm từ phía chóp đến đường nối men- xê măng trong trường hợp bị tụt lợi nhưng mô nha chu khỏe mạnh. - Loại 2 (đường cười cao): thấy giữa 0 và 2 mm nướu viền hoặc giữa 0 và 2 mm từ phía chóp đến đường nối men-xê măng trong trường hợp bị tụt lợi nhưng mô nha chu khỏe mạnh. - Loại 3 (đường cười trung bình): chỉ thấy lợi ở khoang kẽ răng. - Loại 4 (đường cười thấp): không thấy lợi.
Đường cười 17 A- Đường cười rất cao; B - Đường cười cao; C - Đường cười trung bình; D - Đường cười thấp 1. Cung cười Cung cười là đường cong tạo nên bởi rìa cắn các răng cửa trước hàm trên. Cung cười được chia ra 3 loại 18: luan an 9 - Cung cười song song: cung cười song song với bờ trên của môi dưới - Cung cười thẳng: cung cười thẳng so với bờ trên của môi dưới - Cung cười ngược hướng: cung cười cong ngược hướng với bờ trên của môi dưới. Cung cười: A- Cung cười song song; B- Cung cười thẳng; C- Cung cười ngược hướng 18 Khi cung cười song song với đường cong môi dưới, cung cười đó được coi là hài hoà.
Cung cười thẳng được coi là kém thẩm mỹ hơn19,20,21. Hai yếu tố tạo nên hình dạng cung cười là: độ dốc của mặt phẳng cắn trên mặt phẳng đứng dọc và hình dạng cung răng.