Đặt vấn đề Indole 3-acetic acid (tên IUPAC: 2-(1H-indol-3-yl) acetic acid, viết tắt: IAA) là một axit monocacboxylic có công thức phân tử C10H9NO2. IAA lần đầu tiên được phát hiện trên thực vật vào cuối thế kỷ 19 và khám phá này đã đặt nền móng cho lĩnh vực “auxinology” (Spartz and Gray 2008). IAA như một chất trung tâm điều hòa quá trình sinh học, có tác dụng kích thích kéo dài tế bào bằng cách thay đổi các điều kiện sinh lý của cây như tăng tính thấm nước, tính thấm lọc, giảm áp lực tế bào xuống mức thấp v. IAA còn ngăn chặn và trì hoãn hiện tượng sinh lý của lá, thúc đẩy sự ra hoa, tạo quả, ra rễ, phân chia tế bào v.
Do đó, việc sinh tổng hợp IAA là hết sức quan trọng trong việc điều hòa sinh trưởng của cây. Với những tác dụng như vậy, IAA là chất được hướng đến tổng hợp để hỗ trợ sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây lương thực trong ngành nông nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu lương thực ngày càng gia tăng như hiện nay. Trong tự nhiên, IAA được tổng hợp bởi cả thực vật lẫn vi sinh vật vùng rễ của thực vật. Trong đó, Bacillus megaterium là vi khuẩn khá phổ biến trong vùng rễ của thực vật.
Bacillus megaterium đã được chứng minh là có khả năng sản sinh IAA với lượng lớn. Nó có hệ gen nhỏ và đã được giải trình tự, thời gian sinh trưởng và phát triển nhanh cộng với khả năng thao tác trên gen dễ dàng. megaterium là một loài vi khuẩn tiềm năng trong việc sản xuât IAA ứng dụng vào nông nghiệp". Tuy nhiên, các con đường sinh tổng hợp IAA trên Bacillus cũng như các vi khuẩn Gram dương khác vẫn chưa được nghiên cứu kỹ càng.
Người ta mới chỉ tập trung làm rõ con đường sinh tổng hợp IAA ở thực vật và một số vi khuẩn Gram âm. Tuy nhiên, để có thể tối ưu hóa sự sản xuất IAA ở B. megaterium để ứng dụng, điều đầu tiên là hiểu rõ các con đường sinh tổng hợp IAA trên loài này. Vì những lý do 1 đó, tôi đã lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu phân lập một số gen liên quan đến con đường sinh tổng hợp IAA ở vi khuẩn Bacillus megaterium”.2 Mục đích, yêu cầu 1.1 Mục đích Nghiên cứu dự đoán các con sinh tổng hợp IAA có thể có trên chủng vi khuẩn B.
Phân lập các gen mã hóa cho enzyme quan trọng trong các con đường được dự đoán.2 Yêu cầu Dự đoán các con đường tiềm năng quan trọng sinh tổng hợp IAA có thể có trên vi khuẩn B. Phân lập thành công gen ysnE mã hóa cho enzyme tryptophan acetyltransferase, yclC mã hóa cho enzyme phenolic acid decarboxylase và gen 1TM7_03404 mã hóa cho enzyme phenylacetaldehyde dehydrogenase. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về vi khuẩn Bacillus megaterium Vi khuẩn B. megaterium (gần đây đã được đổi tên thành Priestia megaterium) thuộc lớp Bacilli, họ Bacillaceae, chi Bacillus.
megaterium là vi khuẩn Gram dương, thuộc trực khuẩn, đa số là vi khuẩn hiếu khí, hình thành dạng bào tử, được tìm thấy trong nhiều môi trường khác nhau (như đất, nước biển, trầm tích, ruộng lúa, mật ong, cá và thực phẩm khô). Có chiều dài tế bào lên đến 4 µm và đường kính 1,5 µm là một trong những vi khuẩn lớn nhất được biết đến. Nó có kích thước bộ gen khoảng 5,1 Mb, với hàm lượng G + C trung bình là 38,2%, có nhiều plasmid có các kích thước từ 56kb-174kb. Nhiệt độ phát triển trong khoảng 3°C - 45°C, nhiệt độ tối thích khoảng 30°C (Vary et al.
megaterium tạo ra các sản phẩm có các protein như penicilin acylase (được sử dụng để sản xuất penicillin tổng hợp (Martín 1995; Suga et al. 1990), các amylase khác nhau (được dùng để biến tính tinh bột trong ngành công nghiệp bánh), glucose dehydrogenase được sử dụng để tái tạo cofactor NADH/NADPH (Nicotinamid adenin dinucleotid), trong các phản ứng sinh hóa và xét nghiệm glucose trong máu). Hơn nữa, nó được sử dụng để sản xuất pyruvate, vitamin B12, độc tố diệt nấm và oxetanocin, chất ức chế vi rút HIV (vi rút suy giảm miễn dịch ở người), vi rút viêm gan B và loét giác mạc ngứa sẩn đơn do vi rút mụn rộp (herpes simplex corneal ulcers).2 Một số con đường, các gen sinh tổng hợp IAA trên thực vật và vi khuẩn. Hai con đường sinh tổng hợp IAA chính được đề xuất ở thực vật và vi khuẩn là con đường với tiền chất tryptophan và con đường với các tiền chất khác.
Với con đường sinh tổng hợp IAA không phụ thuộc tryptophan, còn chưa được biết đến 3 nhiều, các tiền chất được dự đoán có thể là indole-3-glycerol phosphate hoặc indole (Idris et al. 2007; Mano and Nemoto 2012). Với tiền chất là tryptophan có bốn con đường sinh tổng hợp IAA trên thực vật và vi khuẩn đã được các nhà khoa học đề xuất: con đường indole-3-pyruvic acid (IPyA), indole-3-acetaminde (IAM), indole-3-acetonitrile (IAN), tryptamine (TAM). (Duca et al.
Con đường indole-3-pyruvic acid. Ký hiệu: trp – tryptophan, IPyA – indole-3-pyruvic acid, IAAld – indole-3-acetaldehyde (Duca et al. 2014b) Con đường IPyA được cho là tồn tại ở thực vật, vi khuẩn có lợi và có hại. Các nhà khoa học đã chứng minh, khi con đường này bị bất hoạt quá trình sinh tổng hợp IAA bị giảm đi 90% ở loài Azospirillum Brasilense, Enterobacter cloacae , và Pseudomonas putida (Nascimento et al.
Do đó, con đường IPyA là con đường rất quan trọng trong quá trình tổng hợp IAA với tiền chất là tryptophan. Tuy nhiên, các gen mã hóa trên vi khuẩn chịu trách nhiệm cho bước oxy hóa aldehyde của con đường IPyA vẫn chưa được biết đến nhiều. Sự có mặt của con đường IPyA trên thực vật và vi khuẩn được đề xuất dựa trên việc xác định các chất trung gian tương ứng. Ban đầu, tryptophan sẽ bị khử thành indole-3-pyruvic acid (IPyA) bởi enzyme aminotransferase.
Tiếp sau đó, một enzyme decarboxylase chuyển hóa IPyA tạo ra indole-3-acetaldehyde. Cuối cùng, indole-3-acetaldehyde bị oxy hóa bởi enzyme aldehyde dehydrogenase hoặc enzyme oxidase (Hình 2-1). Gen chịu trách nhiệm cho giai đoạn oxy hóa aldehyde của con đường IPyA vẫn chưa được biết đến nhiều. Các gen indole-3-acetaldehyde dehydrogenase phụ thuộc vào 4 NADP đã xác định được trong bộ gen của Bacillus amyloliquefaciens FXB42 và Bacillus subtilis 168.
Tuy nhiên, khi cắt gen này ở B.amyloliquefaciens FXB424 việc tổng hợp IAA lại không ảnh hưởng nhiều, do đó gen này không đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp IAA. Xie và các cộng sự (2005) đã phát hiện một gen aldA trong Azospirillum brasilense Yu62 có sự tương đồng lên tới 80% so với aldehyde dehydrogenase (Xie et al. Khi chèn gen Tn5 vào vị trí gen aldA kết quả thấy lượng IAA được sản xuất ít hơn khi có gen aldA. Điều này chứng tỏ rằng, gen aldA này có tham gia xúc tác bước oxy hóa andehyde trong con đường IPyA.
Một con đường tắt được đề xuất, trong đó IAAld được tạo thành trực tiếp từ tryptophan bởi enzyme monooxygenase (Hình 2-1). Đây được gọi là con đường oxy hóa chuỗi bên tryptophan (TSO). Con đường TSO đã được đề xuất ở vi khuẩn như Pseudomonas fluorescens HP72, P. Fluorescens CHA0 và P.
Một decarboxylase chuyển indole-3-pyruvic acid thành indole-3-acetylaldehyde, đã được xác định và đặc trưng trong Az. brasilense, Enterobacter cloacae, và Pseudomonas putida. Indole-3-pyruvate decarboxylase (IPDC) là gen mã hóa enzyme chính trong con đường IPyA được gen ipdC mã hóa (Lebuhn and Hartmann 1993; Duca et al. 2014a; Mano and Nemoto 2012).
Ngoài ra, một con đường nhánh mới được đề xuất từ indole-3-pyruvate được chuyển hóa trực tiếp thành IAA. Nhưng con đường này chỉ tồn tại trên một nhóm vi khuẩn. Con đường indole-3-acetamide. Ký hiệu: IAM – indole-3-acetamide, IAN – indole-3-acetinitrile, IAOx – indole-3-acetaldoxime (Duca et al.
Con đường IAM là con đường đã được nghiên cứu rõ ràng nhất ở vi khuẩn (Hình 2-2). Con đường hai bước này được xúc tác bởi các enzyme tryptophan-2- monooxygenase (IaaM) và IAM hydrolase (IaaH), được mã hóa bởi các gen iaaM và iaaH. Các gen tương đồng với gen iaaM đã được phát hiện trên một số vi khuẩn khác, trình tự mã hóa enzyme của chúng được chia làm hai nhóm. Trình tự mã hóa cho enzyme nhóm I tham gia vào con đường sinh tổng hợp IAA, mã hóa cho các enzyme chuyển hóa tryptophan, chẳng hạn như mã hóa tryptophan 2- monooxygenases trong các cây như Agrobacterium tumefaciens, Pseudomonas Syringae Pv.
Savastanoi, Pantoea agglomerans và Dickeya dadantii. Trình tự gen mã hóa enzyme nhóm II không tham gia vào con đường sinh tổng hợp IAA mà nhóm này tham gia xúc tác cho phản ứng phân hủy lysine trên P. Các enzyme nitril hydratase liên kết IAN và IAM con đường bằng cách xúc tác quá trình hydrat hóa indole-3-acetonitril thành IAM, sau đó được chuyển thành sản phẩm cuối cùng IAA bởi indoleacetamide hydrolase /amidase. Nitrile hydratase đã được phát hiện ở nhiều vi khuẩn khác nhau và nhiều nghiên cứu đã khám phá sự tham gia của enzyme này trong sinh tổng hợp IAA.
Enzyme nitrile hydratase có thể hoạt động 6 trên nhiều chất nền nitrile khác nhau bao gồm nitril béo, thơm và dị vòng, chuyển đổi chúng thành các amide tương ứng. Các gen mã hóa amidase thường nằm liền kề với các gen mã hóa nitrile hydratase vì chúng chuyển đổi sản phẩm amide của nitrile hydratase thành axit cacboxylic tương ứng. Các gen mã hóa amidase dự đoán được phát hiện trong vùng lân cận của các gen nitrile hydratase trong bộ gen của Pseudomonas sp. UW4, Bacillus sp.rhodochrous J1, Rhodococcus sp.
N- 774, Pseudomonas chlororaphis B23, Brevibacter sp. japonicum USDA 110 và Ruegeria pomeroya DSS-3 (Duca et al. 2014a; Zdunek-Zastocka 2008; Nascimento et al. 2020a; Lebuhn and Hartmann 1993; Zhao 2010; Won et al.
Con đường indole-3-acetonitrile/indole-3-acetaldoxime. Trp – tryptophan, IAOx - indole-3-acetaldoxime, IAN – indole-3-acetinitrile (Duca et al. Con đường IAOx/IAN sinh tổng hợp IAA vẫn chưa được nghiên cứu nhiều trên thực vật cũng như vi khuẩn. Ở con đường này, đầu tiên tryptophan được chuyển hóa thành indole-3-acetaldoxime (hình 2-3) có thể bởi enzyme oxy hóa, tuy nhiên enzyme này giờ vẫn chưa được làm rõ trên vi khuẩn.
Trong bước thứ hai, indole-3- acetaldoxime chất trung gian được chuyển thành indole-3-acetonitril bởi enzyme acetaldoxime dehydratase. Các enzyme acetaldoxime dehydratase đã được xác định trong một số vi khuẩn và được mã hóa bởi các gen oxd. Các indole-3-acetonitrile được chuyển hóa thành IAA bởi một enzyme nitrilase trong một bước duy nhất hoặc bằng một nitrile hydratase và một amidase trong con đường hai bước. Ở vi khuẩn, các enzyme nitrilase có thể có vai trò trong tổng hợp hormone, đồng hóa chất dinh dưỡng và giải độc nitriles ngoại sinh và nội sinh (Howden and Preston 2009).
Một 7 số nitrilase khác nhau đã được nghiên cứu cụ thể về khả năng chuyển đổi IAN thành IAA. Ở một số vi khuẩn, gen mã hóa cho enzyme nitrilase được tìm thấy gần acetaldoxime các gen dehydrat và enzym của chúng hoạt động được liên kết với nhau, đã được quan sát thấy ở Rhodococcus sp. NCIMB 11216, Rhodococcus sp. AK32 và Vi khuẩn Corynebacterium sp.
C5 (Won et al. 2011b; Duca et al. 2014a; Zhao 2010; Xie et al.