CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ ALGINATE 1. Giới thiệu chung alginate 1.
Nguồn gốc và cấu trúc của alginate Alginate là thuật ngữ chung để nói đến alginic acid, muối và dẫn xuất của nó. Trong tự nhiên alginate tồn tại chủ yếu ở rong nâu, là thành phần cấu trúc của thành tế bào rong nâu (phaeophyceae), ngoài ra còn có ở vi khuẩn như Pseodomonas, Azotobacter,… (Hình 1. Ở vi khuẩn, alginate là polyme duy trì sự ổn định của màng sinh học và thành tế bào nhằm chống lại sự bất lợi của môi trường như độc tính của kim loại nặng. Sản xuất và sử dụng alginate trên thị trường chủ yếu được chiết xuất từ rong nâu vì sinh khối alginate chiếm tỷ lệ cao lên đến 40% trọng lượng khô của rong nâu và thường tồn tại dạng muối natri alginate, KLPT alginate từ 30.
Năm 1883, Stanford đã khám phá ra alginate từ tảo bẹ, ông đã phát triển quy trình chiết xuất kiềm từ vật liệu có độ nhớt gọi là “Algin” [10]. Alginate Rong nâu Vi khuẩn Macrocystis Sagassum Laminaria Azotobacter Pseodomonas Hình 1. Nguồn gốc alginate Alginate được tạo thành bởi các monosaccharide β-D-mannuronic acid (M) và α-L-guluronic acid (G) thông qua liên kết thành từ liên kết (1→4) Luan van 9 glycoside (hình 1. Trong phân tử alginate tỷ lệ, trình tự và sự phân bố của hai monomer thay đổi rất rộng tùy theo nguồn gốc của alginate.
Sự sắp xếp ngẫu nhiên của 2 monomer M và G trong mạch alginate theo 3 dạng cấu trúc block: Block homopolymeric guluronic (Poly-G) gồm các gốc acid guluronic nối tiếp nhau; Block homopolymeric mannuronic (Poly-M) gồm các gốc acid mannuronic nối tiếp nhau; Block heteropolymeric ngẫu nhiên (Poly-MG) hai gốc acid guluronic và acid mannuronic luân phiên nối tiếp nhau (hình 1. Độ dài trung bình của các khối, trình tự của chúng trong mạch phân tử cũng thay đổi tùy theo nguồn gốc của alginate. Do cấu trúc của các gốc monomer G và M khác nhau nên hình dạng của các khối cũng khác nhau: Poly M có cấu tạo ít gấp khúc và tạo nên sự mềm mại của mạch phân tử, trong khi poly G gấp khúc mạnh hơn và có độ bền chặt hơn. Chính sự khác nhau của mạch cấu trúc này nên hai loại uronic thể hiện các tính chất hóa học, sinh học khác nhau [16].
Cấu trúc các β-D-mannuronic acid (M), α-L-guluronic acid (G) của phân tử alginate [16] Luan van 10 Hình 1. Cấu trúc của các block và liên kết (1→4) glycoside giữa các uronic của phân tử alginate [16] Hiện tại alginate được sử dụng trên thị trường có độ đồng nhất về mặt lý hóa thấp, điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng và hạn chế khả năng ứng dụng của chúng trong các lĩnh vực của sự sống. Tùy vào cấu trúc, thành phần của alginate mà chúng có những đặc tính lý hóa khác nhau như KLPT, độ nhớt, độ hòa tan. Alginate có nguồn gốc khác nhau thì tỷ lệ block G và M khác nhau.
Khi alginate có chứa nhiều block G hơn, KLPT cao hơn thì khả năng tạo gel mạnh hơn và giòn hơn [19]. Luan van 11 Acid alginic không tan trong nước và dung môi hữu cơ, trong khi muối đơn chất của alginate và ester alginate tan trong nước tạo thành các dung dịch nhớt, ổn định [20]. Độ tan của alginate còn phụ thuộc vào pH (pH giảm thì alginate sẽ kết tủa), cường độ ion và hàm lượng của ion tạo gel [20], [21]. Alginate có cấu trúc khối MG hòa tan ở pH thấp hơn so với các poly M hoặc poly G.
Ngoài KLPT, khả năng tạo dung dịch nhớt của alginate có thể thay đổi tùy theo nồng độ, pH dung môi, nhiệt độ và sự hiện diện của các ion hóa trị II. Chính vì vậy mà mỗi loại alginate được lựa chọn để ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau. Đặc điểm về alginate của rong nâu Việt Nam Ở Việt Nam, rong nâu là nhóm rong có kích thước lớn (macroalgae), chủ yếu gồm 4 chi Sargassum, Turbinaria, Dictyota, Padina sản lượng tự nhiên cao nhất so với các nhóm rong biển khác. Alginate chiết xuất từ rong nâu ở nước ta chủ yếu tập trung vào chi Sargassum, Turbinaria do hàm lượng alginate và độ nhớt cao đạt yêu cầu về chất lượng alginate thương mại.
Hàm lượng acid alginic (% Rong khô tuyệt đối) ở vùng biển Khánh Hòa [22] Địa điểm Hàm lượng acid TT Loài rong alginic 1 Sargassum mcclurei Hòn Chồng 35,9 2 Sargassum kjellmanianum Hòn Chồng 33,9 3 Sargassum polycystum Hòn Chồng 33,8 4 Sargassum congkinhii Hòn Chồng 26,6 5 Turbinaria ornata Hòn Chồng 39,4 Ở một số loài rong thuộc chi Sargassum và Turbinaria, hàm lượng alginate cao nhất ở loài T. ornata (39,4%), tiếp theo là S. mcclurei (35,9%) và Luan van 12 thấp nhất ở loài S. Chính vì vậy hai loài rong T.
mcclurei là nguồn nguyên liệu tiềm năng để sản xuất alginate (bảng 1. Như vậy, alginate chiếm tỷ lệ cao trong rong nâu, là nguồn nguyên liệu dồi dào có thể khai thác, sản xuất ở quy mô công nghiệp. Hoạt tính sinh học của alginate và alginate KLPT thấp Alginate còn là đối tượng được các nhà khoa học quan tâm chú ý do hoạt tính sinh học đa dạng, tiềm năng lớn ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm. Các nghiên cứu về alginate hoặc dạng acid của nó cho thấy alginate có tính kháng khuẩn [23].
Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các loại kháng sinh mới để chống lại tình trạng kháng đa thuốc ở vi khuẩn đang gia tăng trên toàn thế giới. Sử dụng alginate oligosaccharide G (oligo G) khối lượng 2.600 Da được điều chế từ loài Laminaria hyperborea alginate làm tăng hiệu quả của kháng sinh thông thường (lên đến 512 lần) đối với 21 chủng vi khuẩn đa kháng thuốc khác nhau bao gồm Pseudomonas, Burkholderia sp. và Acinetobacter spp. Khi có 10% Oligo G thì màng tế bào vi khuẩn bị tổn thương, sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc bị suy yếu.
Như vậy oligo G đã liên kết với bề mặt vi khuẩn điều chỉnh điện tích, gây ra sự kết tụ của vi khuẩn và ức chế khả năng vận động. Alginate còn có khả năng kháng u [25], alginate ức chế sự vận chuyển và hấp thụ glucose qua thành ruột vào máu nên là chất tiềm năng để ứng dụng làm thuốc trị tiểu đường [26]. Nhờ vào muối natri alginate tăng cường khả năng bài tiết cholesterol vào phân và ngăn chặn sự gia tăng nồng độ glucose hoặc insulin gây ra bởi khả năng dung nạp glucose [27]. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về alginate và alginate KLPT thấp đều có hoạt tính chống oxy hóa.
Các tính chất này tăng khi alginate bị cắt ngắn thành oligomer [28], [29]. Alginate còn có khả năng tẩy xạ. Khi cơ thể bị nhiễm chất phóng xạ strontium bằng con đường tiêu hóa, có thể dùng natri alginate để đưa chất phóng xạ này ra ngoài cơ thể. Alginate tạo kết tủa bền với strontium do đó nó ngăn được sự hấp thụ strontium vào trong máu và phức hợp này sẽ được đào thải ra ngoài [30].
Luan van 13 Ngoài các hoạt tính sinh học tác dụng có lợi cho sức khỏe đã nêu ở trên, Alginate oligosaccharide (AOS) cũng ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của hoạt động tế bào bao gồm tác dụng điều hòa tăng trưởng tế bào, tác dụng bảo vệ thần kinh, ức chế sự tích tụ chất nhầy trong ruột,…[31]. Hoạt tính sinh học của alginate có mối quan hệ chặt chẽ với cấu trúc của nó, các hoạt tính sinh học tăng khi alginate có độ tinh sạch cao và KLPT thấp [32]. Do đó, ngoài việc nghiên cứu chiết tách, tinh sạch alginate để đảm bảo cấu trúc tự nhiên, độ sạch cao, thì việc nghiên cứu bẻ ngắn mạch alginate để thu nhận các AOS là hết sức cần thiết để tạo nên những sản phẩm có hoạt tính sinh học có tiềm năng ứng dụng trong y dược. Các ứng dụng của alginate và alginate KLPT thấp Alginate không độc, không gây miễn dịch, có khả năng thích ứng và phân hủy sinh học cao nên được xem là vật liệu mới phục vụ cho các ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, ngành dệt,.
Trong nông nghiệp alginate có khả năng kích thích tăng trưởng ở cây trồng, giúp hạt nảy mầm sớm, nâng cao sức đề kháng của cây trồng, tăng năng suất cây trồng, kéo dài thời gian bảo quản và sử dụng, thúc đẩy sự hình thành rễ ở cây lúa [23]. Trong ngành chăn nuôi lợn, bổ sung AOS giúp cải thiện hiệu quả protein thô và khả năng tiêu hóa chất béo do đó kích thích tăng trưởng lợn [31]. Năm 2015 Wenhui Zhu và cộng sự chứng minh polymannuronate có khả năng chống oxy hóa, tình trạng miễn dịch ở chăn nuôi gà thịt [32]. Năm 2000, Iwasaki và cộng sự đã dùng alginate lyase điều chế Alginate KLPT thấp thành oligomer có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng sự phát triển của rau diếp (Lettuce) như: Trisaccharide, tetrasaccharide, pentasaccharide, hexasacharide đều kích thích sinh trưởng rễ cây rau diếp [33].
Lê Quang Luân và cộng sự [34] dùng chiếu xạ điều chế alginate KLPT thấp, các oligosaccharide được điều chế có KLPT từ 1 kDa đến 3 kDa, ở nồng độ 20 ppm là tác nhân kích thích sinh trưởng và phát triển của thực vật. Luan van 14 Alginate được ứng dụng rộng rãi và phổ biến trong ngành công nghiệp. Trong ngành công nghệ dệt, alginate dùng làm hồ vải cho sợi bền và chịu được cọ sát, giảm bớt tỷ lệ sợi đứt và nâng cao hiệu suất dệt. Ngoài ra còn làm vải không thấm nước, in vải, alginate tạo cho thuốc nhuộm có độ dính cao đáng kể, in hoa không nhòe và rõ ràng, công nghiệp giấy và sơn [35].
Trong công nghệ thực phẩm alginate KLPT lớn được sử dụng chủ yếu như là chất phụ gia do tính không độc hại, khả năng tạo gel và tạo độ nhớt. Natri alginate được sử dụng làm chất ổn định kem ly, làm cho kem mịn có mùi thơm, chịu nóng tốt chống tan chảy, ngoài ra còn được dùng trong quá trình làm các loại nước sốt mayonnaise. Dựa vào đặc tính hóa sinh của alginate mà trong công nghệ dược phẩm, alginate thường được dùng làm chất nhũ hóa trong các dạng thuốc có cấu trúc nhũ tương và hỗn dịch, dùng trong tá dược, bao của viên nén hay tham gia vào thành phần của vỏ nang [2]. Trong những năm gần đây, các ngành công nghiệp y khoa và công nghiệp dược đã không ngừng nghiên cứu các loại polymer sinh học nói chung và alginate nói riêng.
Điều thú vị là alginate không những được ứng dụng ở KLPT cao trong dược liệu, mà còn thể hiện rõ rệt khi chúng có KLPT thấp. Các nhà khoa học đã tìm thấy các sản phẩm thủy phân alginate có KLPT từ 5 kDa đến 20 kDa có hoạt tính dược lý [37].