Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự lưu hành các typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh của streptococcus pneumoniae gây bệnh bằng kỹ thuật pcr đa mồi tại một số địa phương ở việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự lưu hành typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae tại Việt Nam bằng kỹ thuật PCR đa mồi.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

182
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

1. VI KHUẨN Streptococcus pneumoniae, KHẢ NĂNG GÂY BỆNH VÀ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC

1.1. Đặc điểm vi khuẩn Streptococcus pneumoniae

1.2. Đặc điểm sinh bệnh học

1.3. Các bệnh gây ra bởi vi khuẩn Streptococcus pneumoniae

1.3.1. Viêm đường hô hấp cấp tính (Acute Respiratory Infections-ARI)

1.3.2. Viêm màng não mủ

1.3.3. Viêm tai giữa

1.3.4. Nhiễm khuẩn huyết

1.4. Dịch tễ học bệnh do phế cầu khuẩn

1.4.1. Tình hình mắc bệnh do phế cầu khuẩn trên thế giới

1.4.2. Tình hình mắc bệnh do phế cầu khuẩn tại Việt Nam

1.5. Dự phòng và điều trị

1.5.1. Vắc xin phòng bệnh do phế cầu khuẩn

2. YẾU TỐ ĐỘC LỰC VÀ TYP HUYẾT THANH CỦA VI KHUẨN Streptococcus pneumoniae

2.1. Độc tố vi khuẩn và cấu trúc kháng nguyên

2.1.1. Độc tố protein

2.1.2. Độc tố polysaccharide

2.2. Cấu trúc kháng nguyên

2.3. Các typ huyết thanh của vi khuẩn S

2.4. Vai trò của lớp vỏ polysaccharide

2.5. Điều hòa sinh tổng hợp các CPS

2.6. Cơ sở khoa học của phân loại typ huyết thanh

2.7. Các typ huyết thanh phổ biến gây bệnh phế cầu xâm lấn (IPD)

3. KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN Streptococcus pneumoniae

3.1. Phương thức tác dụng của kháng sinh

3.2. Gen kháng kháng sinh và cơ chế đề kháng của vi khuẩn S

3.3. Các gen pbp và cơ chế kháng kháng sinh họ Beta-lactam

3.4. Các gen ermB, mefA và cơ chế kháng kháng sinh họ Macrolide

3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính kháng kháng sinh của S

3.5.1. Các yếu tố liên quan đến tác nhân gây bệnh

3.5.2. Các yếu tố liên quan đến kháng sinh

3.5.3. Các yếu tố liên quan đến vật chủ cảm nhiễm

4. CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LỰA CHỌN KỸ THUẬT TRONG NGHIÊN CỨU

4.1. Xét nghiệm chẩn đoán Streptococcus pneumoniae

4.1.1. Kỹ thuật nhuộm soi và nuôi cấy, định danh

4.1.2. Kỹ thuật sinh học phân tử chẩn đoán S

4.1.3. Kỹ thuật xét nghiệm kháng nguyên, kháng thể

4.2. Lựa chọn kỹ thuật cho nghiên cứu chẩn đoán xác định

4.3. Kỹ thuật định typ huyết thanh vi khuẩn Streptococcus pneumoniae

4.3.1. Thử nghiệm “Quellung”

4.3.2. Kỹ thuật PCR đa mồi xác định đồng thời nhiều typ huyết thanh

4.3.3. Kỹ thuật nanofruidic xác định đồng thời nhiều typ huyết thanh

4.4. Lựa chọn kỹ thuật cho nghiên cứu xác định typ huyết thanh

4.5. Kỹ thuật xác định tính kháng kháng sinh của vi khuẩn S

4.5.1. Kỹ thuật PCR đa mồi xác định gen kháng kháng sinh

4.5.2. Kỹ thuật xác định kiểu hình kháng kháng sinh

4.6. Lựa chọn kỹ thuật xác định tính kháng kháng sinh

5. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

5.1.1. Đối tượng nghiên cứu

5.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

5.1.3. Trang thiết bị, dụng cụ và vật tư tiêu hao

5.1.4. Hóa chất, sinh phẩm và chủng chuẩn vi sinh vật

5.1.4.1. Chủng chuẩn vi sinh vật

5.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.2.1. Thiết kế nghiên cứu

5.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

5.2.3. Các biến số nghiên cứu

5.2.4. Phương pháp thu thập thông tin

5.2.5. Đạo đức trong nghiên cứu

5.2.6. Xử lý và phân tích số liệu

5.2.7. Các kỹ thuật phòng thí nghiệm sử dụng trong nghiên cứu

5.2.7.1. Kỹ thuật định danh lại vi khuẩn bằng nuôi cấy phân lập
5.2.7.2. Kỹ thuật khẳng định phế cầu khuẩn bằng PCR
5.2.7.3. Thử nghiệm "Quellung" xác định typ huyết thanh
5.2.7.4. Kỹ thuật PCR đa mồi phát hiện đồng thời nhiều typ huyết thanh
5.2.7.5. Kỹ thuật PCR phát hiện kiểu gen kháng kháng sinh
5.2.7.6. Kỹ thuật Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) xác định tình trạng kháng kháng sinh

6. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

6.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

6.1.1. Đặc điểm phân lập của đối tượng nghiên cứu

6.1.2. Khẳng định vi khuẩn S. pneumoniae bằng PCR

6.2. ÁP DỤNG VÀ CẢI TIẾN QUY TRÌNH PCR ĐA MỒI XÁC ĐỊNH TYP HUYẾT VÀ GEN KHÁNG KHÁNG SINH

6.2.1. Áp dụng và cải tiến quy trình PCR xác định typ huyết thanh

6.2.2. Áp dụng và cải tiến quy trình PCR xác định gen kháng kháng sinh

6.3. XÁC ĐỊNH SỰ PHÂN BỐ CÁC TYP HUYẾT THANH PHẾ CẦU GÂY BỆNH TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM

6.3.1. Kết quả phân bố các typ huyết thanh của vi khuẩn S

6.3.2. Kết quả phân bố typ huyết thanh của vi khuẩn S. pneumoniae theo khu vực

6.3.3. Kết quả phân bố typ huyết thanh chủ yếu trong vắc xin

6.4. Tỷ lệ bao phủ các typ huyết thanh bởi vắc xin

6.5. TÌNH TRẠNG KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN Streptococcus pneumoniae

6.5.1. Kết quả tỷ lệ phân bố gen kháng kháng sinh bằng PCR đa mồi

6.5.2. Kết quả tình trạng kháng kháng sinh theo kiểu hình bằng kỹ thuật nồng độ ức chế tổi thiểu

6.5.3. Tình trạng kháng kháng sinh ở cả 3 bệnh viện thuộc khu vực nghiên cứu

6.5.4. So sánh tình trạng kháng kháng sinh giữa các bệnh viện

6.5.5. Kết quả xác định mối liên quan giữa kiểu hình và gen kháng kháng sinh

6.5.5.1. Mối liên quan giữa kháng sinh nhóm beta-lactam và gen pbp
6.5.5.2. Mối liên quan giữa kháng sinh nhóm macrolide và gen mefA, ermB

6.5.6. Tình trạng đa kháng kháng sinh của các chủng S. pneumoniae bằng kỹ thuật nồng độ ức chế tối thiểu

6.6. MỐI LIÊN QUAN GIỮA TYP HUYẾT THANH VÀ TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH

6.6.1. Mối liên quan giữa typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh

6.6.2. Mối liên quan giữa typ huyết thanh và kiểu hình kháng kháng sinh (MIC)

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Streptococcus pneumoniae

Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng, đặc biệt ở trẻ em và người già. Chúng gây ra nhiều bệnh lý như viêm phổi, viêm màng não mủ và nhiễm khuẩn huyết. Tỷ lệ tử vong do viêm màng não do phế cầu khuẩn cao hơn so với các nguyên nhân khác. Theo ước tính, khoảng 0,7 - 1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong hàng năm do phế cầu khuẩn. Vi khuẩn này có thể tồn tại dưới dạng có vỏ hoặc không có vỏ, với hơn 90 typ huyết thanh khác nhau. Kháng nguyên vỏ là yếu tố quan trọng trong việc phân loại và xác định khả năng gây bệnh của vi khuẩn. Vắc xin phòng bệnh hiện tại chủ yếu dựa vào các kháng nguyên vỏ polysaccharide của Streptococcus pneumoniae. Phương pháp chẩn đoán truyền thống như phản ứng phồng vỏ Quellung có nhiều hạn chế, bao gồm chi phí cao và thời gian lâu. Do đó, việc phát triển các kỹ thuật chẩn đoán nhanh chóng và chính xác như PCR là rất cần thiết.

II. Tình hình nhiễm trùng và kháng kháng sinh tại Việt Nam

Tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam đang trở thành vấn đề nghiêm trọng. Theo Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Việc lạm dụng kháng sinh đã dẫn đến sự gia tăng của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Số liệu cho thấy, 88% kháng sinh tại thành phố được bán mà không cần kê đơn, con số này ở nông thôn lên đến 91%. Điều này tạo ra áp lực lớn lên hệ thống y tế và làm tăng chi phí điều trị. WHO dự đoán rằng đến năm 2050, sẽ có khoảng 10 triệu người tử vong hàng năm do các siêu vi khuẩn kháng thuốc. Việc giám sát tình trạng kháng kháng sinh là cần thiết để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

III. Phân tích typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh

Nghiên cứu về sự lưu hành các typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae tại Việt Nam cho thấy sự đa dạng và phức tạp trong tình hình dịch tễ học. Các typ huyết thanh không được bao phủ trong vắc xin có xu hướng gia tăng, điều này có thể dẫn đến sự chuyển đảo typ huyết thanh sau khi tiêm vắc xin. Việc phân tích mối liên quan giữa các typ huyết thanh và tình trạng kháng kháng sinh giúp xác định hiệu quả của vắc xin trong việc giảm thiểu sự lưu hành của các gen kháng kháng sinh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các chủng vi khuẩn kháng thuốc có thể tồn tại và gia tăng do áp lực chọn lọc từ kháng sinh và vắc xin.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu về Streptococcus pneumoniae tại Việt Nam không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về tình hình dịch tễ học mà còn nhấn mạnh sự cần thiết phải có các biện pháp giám sát và phòng ngừa hiệu quả. Việc phát triển các kỹ thuật chẩn đoán nhanh chóng và chính xác là rất cần thiết để ứng phó với tình trạng kháng kháng sinh đang gia tăng. Các chương trình tiêm chủng cần được điều chỉnh dựa trên các dữ liệu nghiên cứu để đảm bảo hiệu quả trong việc phòng ngừa các bệnh do phế cầu khuẩn gây ra.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là tác nhân vi khuẩn chủ yếu gây bệnh nghiêm trọng ở trẻ em và người già như viêm phổi, viêm màng não mủ và nhiễm khuẩn huyết. Viêm màng não do phế cầu có tỷ lệ tử vong cao hơn hẳn so với viêm màng não do các căn nguyên khác. Ước tính có khoảng 0,7 - 1 triệu trường hợp tử vong hàng năm xảy ra ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi được xác định do phế cầu khuẩn gây ra. Hơn nữa, di chứng để lại sau viêm màng não do phế cầu rất nặng nề.

Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae là song cầu khuẩn Gram dương, tan huyết alpha, kỵ khí tùy tiện, có thể có vỏ hoặc không có vỏ polysaccharide. Kháng nguyên vỏ là kháng nguyên quan trọng để phân loại S.pneumoniae, đồng thời kháng nguyên này đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh bệnh và lan truyền bệnh trong cộng đồng. Dựa trên sự khác biệt tính kháng nguyên vỏ, người ta phân loại vi khuẩn S. pneumoniae thành trên 90 typ huyết thanh khác nhau.

Kháng thể kháng vỏ thường là kháng thể đặc hiệu và có hiệu lực bảo vệ. Vắc xin phế cầu đang sử dụng là vắc xin cộng hợp, bao gồm một số loại kháng nguyên vỏ polysaccharide của vi khuẩn S. Phương pháp kinh điển cho chẩn đoán typ huyết thanh của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae là phản ứng phồng vỏ Quellung. Phương pháp này thường rất tốn kém, mất nhiều thời gian, dễ gây dương tính giả do phản ứng chéo giữa các kháng huyết thanh.

Ngoài ra, phương pháp nuôi cấy kinh điển khó phát hiện các trường hợp đồng nhiễm nhiều typ huyết thanh của vi khuẩn S. pneumoniae, là yếu tố góp phần dẫn đến hiện tượng chuyển đảo typ huyết thanh sau sử dụng vắc xin phòng phế cầu. Trong vài năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã phát triển kỹ thuật PCR để định typ huyết thanh có ưu điểm là nhanh, nhạy, ít tốn kém, có tỉ lệ phát hiện và tỉ lệ đồng nhiễm các typ huyết thanh cao hơn so với phương pháp thông thường [10]. Tuy nhiên, các kỹ thuật PCR đã công bố thường chỉ phù hợp cho từng khu vực nghiên cứu cụ thể và còn hạn chế về số lượng các typ huyết thanh được phát hiện.

Việc tìm ra một quy trình xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho chẩn đoán phần lớn các typ huyết thanh lưu hành của phế cầu ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia là vấn đề hết sức cần thiết. 13 z Nhiễm trùng do S. pneumoniae có thể dự phòng bằng vắc xin và điều trị bằng kháng sinh thích hợp. Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh đã làm xuất hiện và lan truyền gen kháng thuốc gây cản trở tiến trình và hiệu quả điều trị.

Mặc dù tình hình kháng kháng sinh có thể thay đổi theo từng khu vực hay từng quốc gia, nhưng nghiên cứu đã chỉ ra châu Á là một tâm điểm của kháng kháng sinh. Tỷ lệ các chủng kháng kháng sinh ở vi khuẩn gây bệnh đã tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, nguồn lực cũng như cơ sở hạ tầng cho giám sát y tế cộng đồng còn rất nghèo nàn ở nhiều quốc gia [77]. Với hơn 70% dân số trên thế giới sống ở khu vực châu Á Thái Bình Dương thì kháng kháng sinh ở khu vực này trở thành một vấn đề toàn cầu.

Tổ chức Y tế thế giới xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Theo số liệu của Bộ Y tế, có tới 88% kháng sinh tại thành thị được bán ra mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỉ lệ này lên đến 91%, dẫn đến việc tạo ra những chủng vi khuẩn có sức đề kháng mạnh. Sử dụng kháng sinh không hợp lý, không hiệu quả đang là vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp ở mọi cấp độ chăm sóc y tế, là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí khám chữa bệnh. WHO dự tính đến năm 2050, trên thế giới, cứ 3 giây sẽ có 1 người tử vong do các siêu vi khuẩn kháng thuốc, tương đương với khoảng 10 triệu người mỗi năm.

Việc giám sát vi khuẩn kháng thuốc để có biện pháp phòng ngừa sự gia tăng đề kháng là hết sức cần thiết. Mô hình bệnh tật và xu hướng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn có thể thay đổi khác nhau giữa các quốc gia, các khu vực, các vùng địa lý, thậm chí khác nhau giữa các bệnh viện và các khoa điều trị. Vì vậy, mỗi địa phương cần phải có được các số liệu về mức độ đề kháng kháng sinh của riêng mình. Dựa vào áp lực chọn lọc của kháng sinh và áp lực chọn lọc vắc xin, những typ huyết thanh không được bao phủ trong vắc xin hoặc các chủng vi khuẩn đề kháng với kháng sinh sẽ tồn tại và gia tăng về số lượng, gây hậu quả nghiêm trọng.

Việc phân tích mối liên quan giữa tình trạng kháng kháng sinh và các typ huyết thanh ở nhóm typ được bao phủ trong vắc xin và các typ không có trong vắc xin cho thấy được hiệu quả của vắc xin trong việc làm giảm sự lưu hành các gen kháng kháng sinh. Bên cạnh đó còn dự đoán được xu hướng các typ huyết thanh nổi trội trong tương lai sẽ biến đổi như thế nào sau khi 14 z triển khai tiêm chủng vắc xin cộng hợp cho trẻ để có biện pháp thay đổi chiến lược dự phòng trong tương lai. Chương trình giám sát về tỉ lệ mắc, sự lưu hành các typ huyết thanh và tính kháng kháng sinh của các tác nhân vi khuẩn gây nhiễm trùng hô hấp cấp tính trong đó có S.pneumoniae đã được thiết lập ở nhiều nước trên thế giới nhưng chưa có ở Việt Nam. Phương pháp xác định typ huyết thanh sử dụng cho hầu hết các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng chỉ là những kỹ thuật nuôi cấy kinh điển.

Thêm vào đó, thông tin về tính kháng thuốc và cơ chế gen gây kháng thuốc còn hạn chế. Đặc biệt, chưa có một nghiên cứu nào phân tích về mối liên quan giữa các typ huyết thanh và tính kháng kháng sinh cũng như xu hướng dịch chuyển typ huyết thanh ưu thế. Xuất phát từ tính cần thiết và ý nghĩa thực tiễn của vấn đề, chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu sự lưu hành các typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae gây bệnh bằng kỹ thuật PCR đa mồi tại một số địa phương ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu: 1.

Xác định được sự phân bố các typ huyết thanh của các chủng phế cầu gây bệnh tại một số địa phương ở Việt Nam; 2. Xác định được tình trạng kháng kháng sinh của các chủng phế cầu gây bệnh tại một số địa phương ở Việt Nam; 3. Phân tích được mối liên quan giữa typ huyết thanh và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae. Để phục vụ mục tiêu này, nội dung của luận án bao gồm: - Định danh lại vi khuẩn S.

pneumoniae bằng kỹ thuật nuôi cấy và sinh học phân tử. - Áp dụng và cải tiến quy trình PCR đa mồi xác định typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh. - Xác định sự phân bố typ huyết thanh của các chủng phế cầu bằng kỹ thuật PCR đa mồi. - Xác định tình trạng kháng kháng sinh của phế cầu gây bệnh bằng kỹ thuật PCR đa mồi và kỹ thuật nồng độ ức chế tối thiểu (MIC).

15 z - Xác định mối liên quan giữa typ huyết thanh và tính kháng kháng sinh của phế cầu gây bệnh. Tính mới của luận án: Nghiên cứu đã áp dụng và cải tiến được quy trình PCR đa mồi xác định typ huyết thanh của vi khuẩn Streptoccus pneumoniae phù hợp với điều kiện tại Việt Nam. Kỹ thuật này có ưu điểm là nhanh, nhạy, ít tốn kém, có tỉ lệ phát hiện và tỉ lệ đồng nhiễm các typ huyết thanh cao hơn so với phương pháp thông thường. Đưa ra được số liệu tổng quan về các typ huyết thanh lưu hành và tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptoccus pneumoniae làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược triển khai vắc xin dự phòng và lựa chọn kháng sinh thích hợp.

Cung cấp số liệu cho các chương trình giám sát của vi khuẩn Streptoccus pneumoniae trong nước và các nước trong khu vực. Hiện nay chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam có những phân tích về mối liên quan giữa typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh. Phân tích này bên cạnh việc cho thấy được hiệu quả của vắc xin trong việc làm giảm sự lưu hành các gen kháng kháng sinh, còn dự đoán được xu hướng các typ huyết thanh nổi trội sau khi triển khai tiêm vắc xin cho trẻ để có biện pháp thay đổi chiến lược dự phòng. Điểm mới trong phân tích tình trạng kháng kháng sinh theo nồng độ kháng sinh giúp dự báo xu hướng dịch chuyển mức độ đề kháng kháng sinh trong tương lai.

VI KHUẨN Streptococcus pneumoniae, KHẢ NĂNG GÂY BỆNH VÀ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC 1. Đặc điểm vi khuẩn Streptococcus pneumoniae Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae (S. pneumoniae), thuộc họ Streptococaceae, bộ Lactobacillales, còn gọi là phế cầu khuẩn, là vi khuẩn Gram dương, kỵ khí tuỳ tiện, tan huyết alpha, thuộc nhóm liên cầu khuẩn, có khả năng tan trong muối mật và không sinh enzym catalase. Phế cầu khuẩn là một tác nhân quan trọng gây bệnh ở người được phát hiện là nguyên nhân chủ yếu gây viêm phổi vào cuối thế kỷ 19.pneumoniae là đối tượng của nhiều nghiên cứu bệnh miễn dịch học và cơ chế bệnh sinh.

Ngoài viêm phổi, phế cầu còn là nguyên nhân gây nhiều căn bệnh xâm lấn khác như viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm xương, viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm xoang cấp, viêm tai giữa, viêm nội mạc tử cung, viêm màng ngoài tim, viêm màng não và áp xe não [139]. Phế cầu là nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm màng não mủ và viêm tai giữa ở các nước công nghiệp. Viêm phổi do S. pneumoniae gây ra thường gặp ở trẻ nhỏ và người già [32].

pneumoniae nhạy cảm với optochin, có thể sử dụng khoanh giấy optochin để phân biệt được với các liên cầu Streptococcus viridans tan huyết alpha khác.pneumoniae bắt màu Gram dương, đứng thành cặp hoặc có thể đứng thành chuỗi ngắn, hiếm khi đứng riêng rẽ. Phế cầu có thể có vỏ hoặc không vỏ. Vỏ polysaccharide là yếu tố độc lực của tế bào, kháng lại thực bào, đến nay đã phát hiện được trên 90 typ huyết thanh vỏ khác nhau. Chủng mang các typ huyết thanh khác nhau về độc lực, tỷ lệ lưu hành theo từng vùng địa lý và tính kháng kháng sinh [57].

Phế cầu khuẩn (S. pneumoniae) là loại cầu khuẩn thường xếp nối nhau tạo hình cặp “mắt kính”, bắt màu Gram dương, có vỏ và không di động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu sự lưu hành các typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae tại Việt Nam" của tác giả Tống Thị Hà, dưới sự hướng dẫn của GS. Đặng Đức Anh và GS. Phạm Văn Ty, tập trung vào việc phân tích sự phân bố của các typ huyết thanh và các gen kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn này mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng các chiến lược phòng ngừa và điều trị hiệu quả hơn trong y tế công cộng. Đặc biệt, thông tin từ nghiên cứu có thể giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về sự phát triển của kháng thuốc, từ đó cải thiện quy trình điều trị cho bệnh nhân.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh liên quan đến vi sinh vật học và kháng sinh, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ về đặc điểm sinh học của vi khuẩn Streptococcus suis và autovaccine phòng bệnh cho lợn tại Thái Nguyên", nơi nghiên cứu về một loại vi khuẩn khác trong cùng họ Streptococcus. Bên cạnh đó, bài viết "Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý viêm phổi ở lợn do Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các bệnh lý do vi khuẩn gây ra ở động vật, giúp bạn mở rộng hiểu biết về các vấn đề liên quan đến vi sinh vật học. Cuối cùng, bài viết "Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương" sẽ mang đến cái nhìn về việc sử dụng kháng sinh trong thực hành lâm sàng, một chủ đề liên quan mật thiết đến nghiên cứu kháng kháng sinh.