ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết, thậm chí chó còn được nâng niu như một thành viên trong gia đình. Điều này làm tăng nguy cơ truyền lây các bệnh từ chó sang người, một trong số đó phải kể đến là bệnh do giun móc. Giun móc là một loại ký sinh trùng đường tiêu hóa phổ biến ở chó gây ra bởi Ancylostoma spp. Chúng có vòng đời phát triển trực tiếp, có thể lây bệnh qua đường ăn uống và điều làm cho giun móc trở nên nguy hiểm hơn chính là ấu trùng gây nhiễm của chúng có thể xâm nhập qua da lành của ký chủ (Bowman et al.
Giun móc hút máu vật chủ bằng cách sử dụng các răng sắc nhọn và bàn cắt gây tổn thương niêm mạc ruột, nhiễm nhiều giun móc chó có thể làm xuất huyết đường tiêu hoá, nó chính là nguyên nhân gây ra thiếu sắt dẫn tới ký chủ mắc bệnh thiếu máu (Hotez PJ and Pritchard, 1995). Một giun móc trưởng thành có thể hút 0,84 ml máu/ngày, nếu một chó có khoảng 100 giun móc ký sinh sẽ mất khoảng 80 ml máu/ngày và nếu nhiễm nặng mỗi ngày sẽ mất 25% lượng máu của cơ thể (Stenphen et al. Trên người, loài Ancylostoma ceylanicum có khả năng năng gây nên các biểu hiện như: ngứa trên bề mặt da do ấu trùng giun xâm nhập, thiếu máu, đau vùng thượng vị, viêm ruột và tiêu chảy phân có lẫn máu (Carroll and Grove, 1986; Hsu et al. Ở phụ nữ mang thai, bệnh giun móc có liên quan đến việc làm giảm chất lượng sau sinh: trẻ nhẹ cân và có thể bị tử vong (Richard et al.
Tính đến năm 2010, trên thế giới có ít nhất 438,9 triệu người đã bị mắc giun móc (Rachel et al. Theo Traub RJ, chó được coi như các vật chủ tự nhiên cho nguy cơ truyền nhiễm giun móc sang người; theo đó, tỷ lệ nhiễm A. ceylanicum của chúng dao động từ 24% - 92% ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương; A. ceylanicum còn là loài phổ biến thứ hai lây nhiễm sang người tại châu Á, có khoảng 6% - 23% số người mắc giun móc dương tính với trứng A.
ceylanicum tại Thái Lan, Lào và Malaysia. Con người có thể bị nhiễm tự nhiên 3 loài giun móc đó là: Necator americanus, Ancylostoma duodenale, và Ancylostoma ceylanicum; trong đó Ancylostoma ceylanicum được coi là một loài 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có khả năng truyền lây từ động vật sang người. Từ khi loài này được tìm thấy ở chó và mèo, con người ngày càng quan tâm đến tầm quan trọng của căn bệnh này (Traub et al. Tại Việt Nam, nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm giun móc của cộng đồng người Êđê tại buôn Buôr và buôn Earang, tỉnh Đắk Lắk từ năm 2005–2007 là 37,2% (Thân Trọng Quang, 2005-2007) và năm 2009 là 30,9% (YBliu, 2009).
Dương Đức Hiếu và cs. (2016), bằng phương pháp PCR-Restriction Fragment Length Polymorphism (PCR-RFLP) đã khẳng định sự lưu hành của loài giun móc chó A. ceylanicum có khả năng lây nhiễm cho người tại khu vực miền Bắc Việt Nam trên cơ sở đặc điểm hình thái học và phân tích phân tử đoạn gen ty thể (CO1). Trước đây, chẩn đoán bệnh giun móc chỉ dựa vào hình thái học của trứng thông qua các xét nghiệm phân cơ bản để xác định các loài giun móc.
Tuy nhiên, từ khi giun móc xâm nhập vào cơ thể vật chủ cho đến khi phát triển thành dạng trưởng thành, đẻ trứng phải mất ít nhất 12- 17 ngày (O. McCoy, 1930 và Richard D. Bungiro et al., 2005), lúc này ấu trùng di hành đã phá huỷ các cơ quan, nội tạng của vật chủ. Hơn nữa, một số loài giun móc khi ký sinh trên người sẽ không phát triển thành dạng trưởng thành nên không tìm thấy trứng trong phân.
Để đáp ứng nhu cầu chẩn đoán sớm bệnh giun móc, chúng tôi sử dụng kỹ thuật ELISA – một kỹ thuật được xem là có độ nhạy cao trong chẩn đoán các bệnh ký sinh trùng đường ruột, cho phép phát hiện tác nhân gây bệnh ở giai đoạn sớm khi mầm bệnh chỉ mới xâm nhiễm. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thiết lập phản ứng ELISA phát hiện kháng thế chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó”. MỤC TIÊU NGHIÊN CÚU Nghiên cứu thực trạng nhiễm bệnh giun móc, thiết lập phản ứng ELISA và ứng dụng trong chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó. Qua đó đề ra biện pháp phòng tránh bệnh giun móc ở chó cũng như ở người.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa thực tiễn Nêu lên tác hại và nguy cơ lây nhiễm của loài giun móc chó, góp phần vào việc chẩn đoán bệnh giun móc để có biện pháp phòng tránh và điều trị kịp thời. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý nghĩa khoa học Thiết lập phản ứng ELISA chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó.
Bổ xung đặc điểm dịch tễ của bệnh giun móc của chó trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta hiện nay. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA GIUN MÓC CHÓ 2.
Tình hình nghiên cứu giun móc chó ở nước ngoài Năm 1884, Railliet đã tiến hành phân loại và tìm thấy loài giun tròn U.stenocephala gây ra bệnh Ancylostomatosis và sau đó đã được A. Nghiên cứu ở Malaysia, Mohammed AK Mahdy et al. (2012) cho thấy: Trong số 221 chó hoang ở khu vực nội thành, ngoại thành và các trạm cứu hộ, tỉ lệ nhiễm giun móc lên tới 48%, trong đó chó hoang ở các vùng ngoại thành có tỉ lệ nhiễm cao nhất 71,4%, các cá thể chó ở khu vực nội thành nhiễm giun móc với tỉ lệ 48%, và ở các trạm cứu hộ có 28,7% cá thể chó nhiễm bệnh với hai loài được xác định đó là Ancylostoma caninum và Ancylostoma ceylanicum. Tại thành phố Mexico, nghiên cứu của Eguía-Aguilar P et al.
(2005) đã tìm ra sự hiện diện của A. caninum trong 75 trên tổng số 102 cá thể chó nhiễm giun sán, chiếm tỉ lệ 62,5%. Một nghiên cứu ở Assam, Ấn Độ (Traub RJ et al., 2004) đã cho thấy có tới 98% số lượng chó bị nhiễm giun móc chó trong đó có tới 74% chó được xét nghiệm cho kết quả dương tính với A. Trong một cuộc khảo sát được tiến hành ở Thái Lan, A.
ceylanicum được ghi nhận là loài giun móc nhiễm chủ yếu trên chó và đã được phát hiện nhiễm ở người (Traub Rj et al. Tỷ lệ nhiễm giun móc chó tăng dần theo độ tuổi của chó. Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Lào của James V. Conlan et al.
(2012) trên mẫu phân của người và chó đã cho thấy sự lây lan rộng rãi và mạnh mẽ của A. ceylanicum với tỉ lệ nhiễm đạt 46,3%, cao nhất trong các loại giun sán truyền lây. Vào năm 2012, với nghiên cứu của Tawin Inpankaew et al., mức độ nhiễm giun móc đáng báo động ở người tại một ngôi làng ở Campuchia đã phát hiện với tỷ lệ nhiễm là 57%, trong đó chủ yếu là loài A. Tại Trung Quốc, nghiên cứu của Kun-Yan Wei et al.
(2017) đã tìm ra trong 424 ca xuất huyết dạ dày ở người thì có 62 ca là giun móc chó gây ra. Còn tại Mỹ, hai bác sĩ Foster và Smith cho rằng A. caninum là nguyên nhân quan trọng trong việc gây thiếu máu và đặc biệt là gây viêm da khi ấu trùng xâm nhập 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua da di hành vào cơ thể vật chủ. Trong một vài trường hợp ấu trùng giun móc đi sâu vào các mô cơ là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi và viêm cơ và có khả năng truyền từ mẹ sang con qua nhau thai (CDC, 2013).
Ngoài ra ấu trùng trong quá trình di hành sẽ gây tổn thương ở các cơ quan như da, phổi, niêm mạc ruột, mạch máu. Giun trưởng thành hút máu gây tổn thương niêm mạc ruột và mạch máu. Giun còn tiết độc tố phá vỡ hồng cầu, làm máu chậm đông (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978). Theo Sally Gardiner (2006) một cá thể giun móc A.
caninum trưởng thành có thể hút 0.8ml máu/ngày, nếu nhiễm nặng mỗi ngày có thể mất tới 25% lượng máu của cơ thể. Tình hình nghiên cứu giun móc chó ở trong nước Ở Việt Nam, vào những năm đầu thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ở nước ta còn rất ít, chủ yếu là các nghiên cứu của một số tác giả người Pháp như: Houdemer, Nobel, Bauche,. Nghiên cứu của các tác giả cho thấy chó ở Việt Nam nhiễm 29 loài giun, sán, trong đó loài A. caninum nhiễm với tỷ lệ cao nhất: 75,87% (Đỗ Dương Thái và cs.
Houdemer là người đầu tiên phát hiện ra sự hiện diện của A. braziliense trên chó ở Việt Nam qua việc định dạng mẫu giun móc chó tại hai thành phố Huế và Hồ Chí Minh (1938). Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ nhiễm A. braziliense lên tới 79,84% (Lê H, Lương V.
Về phía Bắc, tại thành phố Hà Nội, một nghiên cứu đã tìm ra tỉ lệ nhiễm giun móc chó A. caninum trên các loài chó là rất cao: 57,7% (Nguyen QD, 2012). Đỗ Hài (1972), Đào Hữu Thanh (1998) nhận xét tỷ lệ nhiễm A. caninum ở chó một số khu vực phía Bắc là 83,3%.
Nghiên cứu về hình thái của giun móc ở Việt Nam, Nguyễn Văn Đức (1995) cho biết A. caninum đực dài 8,1 – 10,2mm, rộng nhất 0,33 – 0,48mm, đầu cong về mặt bên. Khoang miệng rộng, hình cầu. Thực quản dài 0,74 – 0,89mm, rộng nhất 0,139 – 0,168mm, có thành thực quản ở phía sau.
Vòng thần kinh cách mút đầu 0,446 – 0,545mm, lỗ bài tiết 0,634 – 0,693mm. Túi sinh dục phát triển, các nhóm sườn đều bắt nguồn từ một gốc chung lớn. Cách túi sinh dục 1,48 – 1,78mm đến phần đầu của túi sinh dục có những dải cơ sáng màu, phân bố ở mặt bên. Gai sinh dục mảnh, dài 0,734 – 0,792mm.
Gai điều chỉnh to, gốc có vành rộng, mút đuôi nhọn, dài 0,178 – 0,198mm. Giun móc trưởng thành sống ở ruột non của chó, tập trung ở tá tràng, không tràng, kết tràng và đẻ trứng tại đó. Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thích hợp: Nhiệt độ từ 20 - 30ºC sẽ phát triển 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành ấu trùng. Ấu trùng giai đoạn 1 lột xác 2 lần ở môi trường ngoài và sau 6 - 7 ngày trở thành ấu trùng gây nhiễm.
Sự phát triển của A. caninum trong ruột chó đến giai đoạn trưởng thành kéo dài 14 – 16 ngày. Thời gian sống của giun móc từ 8 – 20 tháng trong cơ thể chó.