Nghiên cứu thiết lập phản ứng ELISA để phát hiện kháng thể chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó

Luận văn thạc sĩ vnua nghiên cứu thiết lập phản ứng elisa phát hiện kháng thể chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó, góp phần bảo vệ sức khỏe thú cưng.

Chuyên ngành

Thú Y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2019

64
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1. LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA GIUN MÓC CHÓ

3.1.1. Tình hình nghiên cứu giun móc chó ở nước ngoài

3.1.2. Tình hình nghiên cứu giun móc chó ở trong nước

4. ĐẶT VẤN ĐỀ

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

7. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ELISA phát hiện kháng thể bệnh giun móc ở chó

Nghiên cứu ELISA (Enzyme-linked Immunosorbent Assay) đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc phát hiện kháng thể bệnh giun móc ở chó. Bệnh giun móc, do các loài ký sinh trùng như Ancylostoma spp. gây ra, có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho chó và có khả năng lây nhiễm sang người. Việc phát hiện sớm kháng thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị và phòng ngừa bệnh.

1.1. Khái niệm về bệnh giun móc ở chó và tác hại của nó

Bệnh giun móc ở chó là một trong những bệnh ký sinh trùng phổ biến nhất. Giun móc có thể gây ra thiếu máu, suy dinh dưỡng và các vấn đề tiêu hóa nghiêm trọng. Theo nghiên cứu, một con giun móc trưởng thành có thể hút tới 0,84 ml máu mỗi ngày, dẫn đến tình trạng thiếu máu nghiêm trọng nếu chó bị nhiễm nặng.

1.2. Tại sao cần nghiên cứu phương pháp ELISA trong chẩn đoán bệnh

Phương pháp ELISA cho phép phát hiện kháng thể trong huyết thanh chó một cách nhanh chóng và chính xác. Điều này giúp bác sĩ thú y có thể chẩn đoán sớm bệnh giun móc, từ đó đưa ra các biện pháp điều trị kịp thời và hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong việc phát hiện bệnh giun móc ở chó

Mặc dù có nhiều phương pháp chẩn đoán bệnh giun móc, nhưng việc phát hiện sớm vẫn gặp nhiều khó khăn. Các phương pháp truyền thống như xét nghiệm phân thường không phát hiện được giun móc trong giai đoạn đầu của bệnh. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán muộn và làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho người.

2.1. Những hạn chế của phương pháp xét nghiệm phân truyền thống

Xét nghiệm phân chỉ có thể phát hiện trứng giun móc khi chúng đã trưởng thành và đẻ trứng. Điều này có thể mất từ 12-17 ngày sau khi nhiễm, trong khi đó, bệnh có thể gây ra tổn thương nghiêm trọng cho vật chủ trong thời gian này.

2.2. Tác động của bệnh giun móc đến sức khỏe cộng đồng

Bệnh giun móc không chỉ ảnh hưởng đến chó mà còn có thể lây nhiễm sang người, gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như thiếu máu và viêm ruột. Tỷ lệ nhiễm giun móc ở người có thể lên tới 23% tại một số khu vực, cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

III. Phương pháp ELISA trong phát hiện kháng thể bệnh giun móc ở chó

Phương pháp ELISA được sử dụng để phát hiện kháng thể trong huyết thanh chó, giúp chẩn đoán bệnh giun móc một cách nhanh chóng và chính xác. Nghiên cứu đã thiết lập quy trình thực hiện ELISA với các kháng nguyên khác nhau để tối ưu hóa độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp.

3.1. Quy trình thực hiện phản ứng ELISA

Quy trình ELISA bao gồm các bước như chuẩn bị kháng nguyên, pha loãng huyết thanh và đọc kết quả. Nghiên cứu đã xác định nồng độ kháng nguyên và độ pha loãng kháng thể phù hợp để đạt được độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất.

3.2. Đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp

Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp ELISA đạt độ nhạy 85% và độ đặc hiệu 80% khi sử dụng nồng độ kháng nguyên 0,005 µg/ml và độ pha loãng kháng thể 1/800. Điều này cho thấy ELISA là một công cụ hiệu quả trong chẩn đoán bệnh giun móc ở chó.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương pháp ELISA trong chẩn đoán bệnh giun móc

Phương pháp ELISA đã được áp dụng thành công trong việc chẩn đoán bệnh giun móc ở chó tại nhiều phòng khám thú y. Kết quả cho thấy tỷ lệ dương tính đạt 69,23%, cao hơn nhiều so với các phương pháp xét nghiệm phân truyền thống.

4.1. Kết quả nghiên cứu tại phòng khám thú y

Tại phòng khám GAIA, tỷ lệ nhiễm giun móc ở chó được xác định là 26%. Việc áp dụng phương pháp ELISA đã giúp phát hiện sớm nhiều trường hợp nhiễm bệnh, từ đó có biện pháp điều trị kịp thời.

4.2. Lợi ích của việc phát hiện sớm bệnh giun móc

Việc phát hiện sớm bệnh giun móc không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe cho chó mà còn giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm sang người. Điều này góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cả vật nuôi và chủ nhân.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu ELISA trong chẩn đoán bệnh giun móc

Nghiên cứu ELISA đã chứng minh được hiệu quả trong việc phát hiện kháng thể bệnh giun móc ở chó. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp, đồng thời mở rộng ứng dụng trong các bệnh ký sinh trùng khác.

5.1. Hướng đi mới trong nghiên cứu ELISA

Cần nghiên cứu thêm về các kháng nguyên mới và tối ưu hóa quy trình thực hiện ELISA để nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán bệnh giun móc và các bệnh ký sinh trùng khác.

5.2. Tầm quan trọng của việc phòng ngừa bệnh giun móc

Phòng ngừa bệnh giun móc không chỉ là trách nhiệm của các bác sĩ thú y mà còn cần sự hợp tác của cộng đồng. Việc nâng cao nhận thức về bệnh giun móc và các biện pháp phòng ngừa là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho cả chó và người.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnua nghiên cứu thiết lập phản ứng elisa phát hiện kháng thể chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết, thậm chí chó còn được nâng niu như một thành viên trong gia đình. Điều này làm tăng nguy cơ truyền lây các bệnh từ chó sang người, một trong số đó phải kể đến là bệnh do giun móc. Giun móc là một loại ký sinh trùng đường tiêu hóa phổ biến ở chó gây ra bởi Ancylostoma spp. Chúng có vòng đời phát triển trực tiếp, có thể lây bệnh qua đường ăn uống và điều làm cho giun móc trở nên nguy hiểm hơn chính là ấu trùng gây nhiễm của chúng có thể xâm nhập qua da lành của ký chủ (Bowman et al.

Giun móc hút máu vật chủ bằng cách sử dụng các răng sắc nhọn và bàn cắt gây tổn thương niêm mạc ruột, nhiễm nhiều giun móc chó có thể làm xuất huyết đường tiêu hoá, nó chính là nguyên nhân gây ra thiếu sắt dẫn tới ký chủ mắc bệnh thiếu máu (Hotez PJ and Pritchard, 1995). Một giun móc trưởng thành có thể hút 0,84 ml máu/ngày, nếu một chó có khoảng 100 giun móc ký sinh sẽ mất khoảng 80 ml máu/ngày và nếu nhiễm nặng mỗi ngày sẽ mất 25% lượng máu của cơ thể (Stenphen et al. Trên người, loài Ancylostoma ceylanicum có khả năng năng gây nên các biểu hiện như: ngứa trên bề mặt da do ấu trùng giun xâm nhập, thiếu máu, đau vùng thượng vị, viêm ruột và tiêu chảy phân có lẫn máu (Carroll and Grove, 1986; Hsu et al. Ở phụ nữ mang thai, bệnh giun móc có liên quan đến việc làm giảm chất lượng sau sinh: trẻ nhẹ cân và có thể bị tử vong (Richard et al.

Tính đến năm 2010, trên thế giới có ít nhất 438,9 triệu người đã bị mắc giun móc (Rachel et al. Theo Traub RJ, chó được coi như các vật chủ tự nhiên cho nguy cơ truyền nhiễm giun móc sang người; theo đó, tỷ lệ nhiễm A. ceylanicum của chúng dao động từ 24% - 92% ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương; A. ceylanicum còn là loài phổ biến thứ hai lây nhiễm sang người tại châu Á, có khoảng 6% - 23% số người mắc giun móc dương tính với trứng A.

ceylanicum tại Thái Lan, Lào và Malaysia. Con người có thể bị nhiễm tự nhiên 3 loài giun móc đó là: Necator americanus, Ancylostoma duodenale, và Ancylostoma ceylanicum; trong đó Ancylostoma ceylanicum được coi là một loài 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có khả năng truyền lây từ động vật sang người. Từ khi loài này được tìm thấy ở chó và mèo, con người ngày càng quan tâm đến tầm quan trọng của căn bệnh này (Traub et al. Tại Việt Nam, nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm giun móc của cộng đồng người Êđê tại buôn Buôr và buôn Earang, tỉnh Đắk Lắk từ năm 2005–2007 là 37,2% (Thân Trọng Quang, 2005-2007) và năm 2009 là 30,9% (YBliu, 2009).

Dương Đức Hiếu và cs. (2016), bằng phương pháp PCR-Restriction Fragment Length Polymorphism (PCR-RFLP) đã khẳng định sự lưu hành của loài giun móc chó A. ceylanicum có khả năng lây nhiễm cho người tại khu vực miền Bắc Việt Nam trên cơ sở đặc điểm hình thái học và phân tích phân tử đoạn gen ty thể (CO1). Trước đây, chẩn đoán bệnh giun móc chỉ dựa vào hình thái học của trứng thông qua các xét nghiệm phân cơ bản để xác định các loài giun móc.

Tuy nhiên, từ khi giun móc xâm nhập vào cơ thể vật chủ cho đến khi phát triển thành dạng trưởng thành, đẻ trứng phải mất ít nhất 12- 17 ngày (O. McCoy, 1930 và Richard D. Bungiro et al., 2005), lúc này ấu trùng di hành đã phá huỷ các cơ quan, nội tạng của vật chủ. Hơn nữa, một số loài giun móc khi ký sinh trên người sẽ không phát triển thành dạng trưởng thành nên không tìm thấy trứng trong phân.

Để đáp ứng nhu cầu chẩn đoán sớm bệnh giun móc, chúng tôi sử dụng kỹ thuật ELISA – một kỹ thuật được xem là có độ nhạy cao trong chẩn đoán các bệnh ký sinh trùng đường ruột, cho phép phát hiện tác nhân gây bệnh ở giai đoạn sớm khi mầm bệnh chỉ mới xâm nhiễm. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thiết lập phản ứng ELISA phát hiện kháng thế chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó”. MỤC TIÊU NGHIÊN CÚU Nghiên cứu thực trạng nhiễm bệnh giun móc, thiết lập phản ứng ELISA và ứng dụng trong chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó. Qua đó đề ra biện pháp phòng tránh bệnh giun móc ở chó cũng như ở người.

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa thực tiễn Nêu lên tác hại và nguy cơ lây nhiễm của loài giun móc chó, góp phần vào việc chẩn đoán bệnh giun móc để có biện pháp phòng tránh và điều trị kịp thời. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý nghĩa khoa học Thiết lập phản ứng ELISA chẩn đoán sớm bệnh giun móc ở chó.

Bổ xung đặc điểm dịch tễ của bệnh giun móc của chó trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta hiện nay. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA GIUN MÓC CHÓ 2.

Tình hình nghiên cứu giun móc chó ở nước ngoài Năm 1884, Railliet đã tiến hành phân loại và tìm thấy loài giun tròn U.stenocephala gây ra bệnh Ancylostomatosis và sau đó đã được A. Nghiên cứu ở Malaysia, Mohammed AK Mahdy et al. (2012) cho thấy: Trong số 221 chó hoang ở khu vực nội thành, ngoại thành và các trạm cứu hộ, tỉ lệ nhiễm giun móc lên tới 48%, trong đó chó hoang ở các vùng ngoại thành có tỉ lệ nhiễm cao nhất 71,4%, các cá thể chó ở khu vực nội thành nhiễm giun móc với tỉ lệ 48%, và ở các trạm cứu hộ có 28,7% cá thể chó nhiễm bệnh với hai loài được xác định đó là Ancylostoma caninum và Ancylostoma ceylanicum. Tại thành phố Mexico, nghiên cứu của Eguía-Aguilar P et al.

(2005) đã tìm ra sự hiện diện của A. caninum trong 75 trên tổng số 102 cá thể chó nhiễm giun sán, chiếm tỉ lệ 62,5%. Một nghiên cứu ở Assam, Ấn Độ (Traub RJ et al., 2004) đã cho thấy có tới 98% số lượng chó bị nhiễm giun móc chó trong đó có tới 74% chó được xét nghiệm cho kết quả dương tính với A. Trong một cuộc khảo sát được tiến hành ở Thái Lan, A.

ceylanicum được ghi nhận là loài giun móc nhiễm chủ yếu trên chó và đã được phát hiện nhiễm ở người (Traub Rj et al. Tỷ lệ nhiễm giun móc chó tăng dần theo độ tuổi của chó. Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Lào của James V. Conlan et al.

(2012) trên mẫu phân của người và chó đã cho thấy sự lây lan rộng rãi và mạnh mẽ của A. ceylanicum với tỉ lệ nhiễm đạt 46,3%, cao nhất trong các loại giun sán truyền lây. Vào năm 2012, với nghiên cứu của Tawin Inpankaew et al., mức độ nhiễm giun móc đáng báo động ở người tại một ngôi làng ở Campuchia đã phát hiện với tỷ lệ nhiễm là 57%, trong đó chủ yếu là loài A. Tại Trung Quốc, nghiên cứu của Kun-Yan Wei et al.

(2017) đã tìm ra trong 424 ca xuất huyết dạ dày ở người thì có 62 ca là giun móc chó gây ra. Còn tại Mỹ, hai bác sĩ Foster và Smith cho rằng A. caninum là nguyên nhân quan trọng trong việc gây thiếu máu và đặc biệt là gây viêm da khi ấu trùng xâm nhập 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua da di hành vào cơ thể vật chủ. Trong một vài trường hợp ấu trùng giun móc đi sâu vào các mô cơ là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi và viêm cơ và có khả năng truyền từ mẹ sang con qua nhau thai (CDC, 2013).

Ngoài ra ấu trùng trong quá trình di hành sẽ gây tổn thương ở các cơ quan như da, phổi, niêm mạc ruột, mạch máu. Giun trưởng thành hút máu gây tổn thương niêm mạc ruột và mạch máu. Giun còn tiết độc tố phá vỡ hồng cầu, làm máu chậm đông (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978). Theo Sally Gardiner (2006) một cá thể giun móc A.

caninum trưởng thành có thể hút 0.8ml máu/ngày, nếu nhiễm nặng mỗi ngày có thể mất tới 25% lượng máu của cơ thể. Tình hình nghiên cứu giun móc chó ở trong nước Ở Việt Nam, vào những năm đầu thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ở nước ta còn rất ít, chủ yếu là các nghiên cứu của một số tác giả người Pháp như: Houdemer, Nobel, Bauche,. Nghiên cứu của các tác giả cho thấy chó ở Việt Nam nhiễm 29 loài giun, sán, trong đó loài A. caninum nhiễm với tỷ lệ cao nhất: 75,87% (Đỗ Dương Thái và cs.

Houdemer là người đầu tiên phát hiện ra sự hiện diện của A. braziliense trên chó ở Việt Nam qua việc định dạng mẫu giun móc chó tại hai thành phố Huế và Hồ Chí Minh (1938). Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ nhiễm A. braziliense lên tới 79,84% (Lê H, Lương V.

Về phía Bắc, tại thành phố Hà Nội, một nghiên cứu đã tìm ra tỉ lệ nhiễm giun móc chó A. caninum trên các loài chó là rất cao: 57,7% (Nguyen QD, 2012). Đỗ Hài (1972), Đào Hữu Thanh (1998) nhận xét tỷ lệ nhiễm A. caninum ở chó một số khu vực phía Bắc là 83,3%.

Nghiên cứu về hình thái của giun móc ở Việt Nam, Nguyễn Văn Đức (1995) cho biết A. caninum đực dài 8,1 – 10,2mm, rộng nhất 0,33 – 0,48mm, đầu cong về mặt bên. Khoang miệng rộng, hình cầu. Thực quản dài 0,74 – 0,89mm, rộng nhất 0,139 – 0,168mm, có thành thực quản ở phía sau.

Vòng thần kinh cách mút đầu 0,446 – 0,545mm, lỗ bài tiết 0,634 – 0,693mm. Túi sinh dục phát triển, các nhóm sườn đều bắt nguồn từ một gốc chung lớn. Cách túi sinh dục 1,48 – 1,78mm đến phần đầu của túi sinh dục có những dải cơ sáng màu, phân bố ở mặt bên. Gai sinh dục mảnh, dài 0,734 – 0,792mm.

Gai điều chỉnh to, gốc có vành rộng, mút đuôi nhọn, dài 0,178 – 0,198mm. Giun móc trưởng thành sống ở ruột non của chó, tập trung ở tá tràng, không tràng, kết tràng và đẻ trứng tại đó. Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thích hợp: Nhiệt độ từ 20 - 30ºC sẽ phát triển 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành ấu trùng. Ấu trùng giai đoạn 1 lột xác 2 lần ở môi trường ngoài và sau 6 - 7 ngày trở thành ấu trùng gây nhiễm.

Sự phát triển của A. caninum trong ruột chó đến giai đoạn trưởng thành kéo dài 14 – 16 ngày. Thời gian sống của giun móc từ 8 – 20 tháng trong cơ thể chó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ELISA phát hiện kháng thể bệnh giun móc ở chó" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp ELISA trong việc phát hiện kháng thể liên quan đến bệnh giun móc ở chó. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về bệnh lý này mà còn cung cấp các phương pháp chẩn đoán hiệu quả, từ đó hỗ trợ các bác sĩ thú y trong việc phát hiện và điều trị bệnh kịp thời. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức hoạt động của phương pháp ELISA, cũng như tầm quan trọng của việc phát hiện sớm bệnh giun móc để bảo vệ sức khỏe cho thú cưng.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến bệnh lý ở động vật, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu thử nghiệm kit chuẩn đoán bệnh gumboro trên đàn gà nuôi tại thái nguyên, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp chẩn đoán bệnh ở gia cầm. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn pasteurelia multocida gây bệnh tụ huyết trùng ở bò tại huyện thạch thất hà nội và biện pháp phòng trị cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các bệnh lý khác ở động vật và cách phòng trị hiệu quả. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về chẩn đoán và điều trị bệnh ở động vật, từ đó nâng cao khả năng chăm sóc sức khỏe cho thú cưng của bạn.