Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những hiểu biết về vi khuẩn Pasteurella multocida 1. Hình thái Pasteurella multocida là một cầu trực khuẩn nhỏ 2 đầu tròn, kích thước từ 0,6 - 2,5µm x 0,2 - 0,4 µm, vi khuẩn không có lông, không di động, không hình thành nha bào và bắt màu Gram âm (Smith JE. Trong cơ thể bệnh, vi khuẩn hình thành giáp mô nhưng khó quan sát và khi nhuộm vi khuẩn có hiện tượng bắt màu sẫm hơn ở hai đầu tế bào nên P.multocida được gọi là vi khuẩn lưỡng cực (Smith JE.
Hình thái và kích thước của vi khuẩn có thể thay đổi tuỳ thuộc vào các điều kiện nuôi cấy khác nhau (Rimler R. Trong máu động vật, hình thái của vi khuẩn thường đồng nhất, còn khi phát triển trong môi trường nhân tạo vi khuẩn thường đa hình thái, hình trứng, hình cầu hoặc hình que. Khi nuôi cấy trong môi trường có cho thêm carbonhydrate, vi khuẩn thường kết lại thành chuỗi dài (Rosenbusch C. Đặc tính nuôi cấy P.
multocida là vi khuẩn yếu khí tùy tiện, nhiệt độ thích hợp 370C, pH thích hợp từ 7,2-7,4. Mọc chủ yếu trên các môi trường nuôi cấy thông thường, môi trường có bổ sung huyết thanh hoặc máu thì vi khuẩn mọc tốt (Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 2001). Tuy nhiên không mọc trên thạch MacConkey. Môi trường nước thịt: sau 24 giờ nuôi cấy, môi trường đục vừa, mùi tanh đặc biệt như mùi nước dãi khô, lắc có vẩn như sương mù rồi lại mất, đáy ống có cặn nhày, trên mặt môi trường có màng mỏng.
Môi trường thạch thường: sau 24 giờ nuôi cấy trên mặt thạch hình thành khuẩn lạc dạng S nhỏ, trong suốt, long lanh như giọt sương. Nuôi lâu khuẩn lạc có màu trắng ngà dính vào môi trường. multocida có thể phát triển thành khuẩn lạc dạng S, dạng R hay dạng M trong môi trường này. Khuẩn lạc dạng S (Smooth) là khuẩn lạc trơn, bóng láng, mặt vồng, có dung quang sắc cầu vồng, là dạng khuẩn lạc có độc lực mạnh, vi khuẩn thuộc dạng khuẩn lạc này thường c 4 tạo thành lớp giáp mô nhiều hơn khuẩn lạc dạng xù xì.
Khuẩn lạc dạng R (Rough) thường dẹt, có rìa nhám xù xì, trơn nhám, có dung quang màu xanh, có độc lực yếu hơn. Khuẩn lạc dạng M (Mucoid) ướt nhày, có kích thước to nhất, rìa khuẩn lạc nhẵn, dung quang sắc cầu vồng yếu hơn dạng S. Hình dạng khuẩn lạc có thể thay đổi, khi nuôi cấy lâu ngày khuẩn lạc tăng kích thước, nhớt và dính chặt vào mặt thạch, còn khi cấy chuyển nhiều lần thì giáp mô mất đi, kích thước khuẩn lạc nhỏ lại, không màu và trong suốt. Môi trường thạch máu: vi khuẩn không gây dung huyết, phát triển tốt, khuẩn lạc to hơn thạch thường.
Đây là môi trường dùng để nhân và giữ giống vi khuẩn (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001). Đặc trưng của vi khuẩn P. multocida là khuẩn lạc có mùi thơm ngọt và không gây dung huyết. Môi trường thạch - huyết thanh - huyết cầu tố: là môi trường dùng để phân lập, giám định, xác định độc lực của vi khuẩn.
Môi trường này, khuẩn lạc hình thành có hiện tượng tán sắc (iridescent). Khi xem khuẩn lạc dưới kính hiển vi hai thị kính với độ phóng đại thấp (x20) và góc chiếu phản quang của ánh sáng đèn điện 450, tùy theo độc lực của vi khuẩn mà màu sắc của khuẩn lạc khác nhau.Vi khuẩn có độc lực cao thì khuẩn lạc của chúng quan sát thấy 2/3 diện tích khuẩn lạc về phía đèn có màu xanh lơ hay xanh lá mạ; 1/3 diện tích khuẩn lạc có màu vàng ánh kim hay màu da cam; gọi là khuẩn lạc Fg (Greenish Fluorescent). Vi khuẩn có độc lực vừa biểu hiện 2/3 diện tích khuẩn lạc về phía đèn có màu vàng ánh kim hay màu da cam, gọi là khuẩn lạc Fo (Orange Fluorescent). Vi khuẩn có độc lực yếu, khuẩn lạc của chúng không có hiện tượng tán sắc, không màu gọi là Nf (Not Fluorescent).
Hiện tượng tán sắc của khuẩn lạc thấy rõ sau nuôi cấy 24 giờ, chúng sẽ mất đi nếu để qua 72 giờ nuôi cấy. Môi trường nước thịt pepton: sau cấy 24 giờ vi khuẩn làm đục môi trường, vài ngày sau môi trường trở nên trong, dưới đáy có cặn nhày, lắc khó tan. Để nuôi cấy vi khuẩn chế tạo vắc xin người ta thường sử dụng môi trường cơ bản có thêm đường sucrose, peptone và chất chiết men bia. Theo Namioka và Murata (1961), môi trường nuôi cây tốt nhất cho vi khuẩn P.
multocida là c 5 Yeast extract Pepton-L-Cystin (YPC) có thêm sucrose và natri sulfite (Na2SO3). Đây là môi trường giúp cho sự tái tạo giáp mô của vi khuẩn và cũng là môi trường phân lập, giữ giống và nhân giống. Môi trường Hottinger cũng rất tốt cho vi khuẩn Pasteurella phát triển. Đặc tính sinh hóa Mỗi vi khuẩn có một phản ứng sinh hóa đặc trưng, vì vậy bước đầu cần giám định các đặc tính sinh hóa của các chủng vi khuẩn nghiên cứu.
Đa số các chủng vi khuẩn P. multocida có khả năng lên men không sinh hơi đường galactose, glucose, mannose, sorbitol, mannit, sozbit, xylose và sucrose. multocida không lên men đường lactose, maltose, arabino, rammo, salixin, dunxin, adonit. multocida không làm tan chảy gelatin, không mọc trên môi trường khoai tây, không làm đông vón sữa.
Các chủng vi khuẩn P. multocida có khả năng sinh indol và khi thay đổi thành phần của môi trường cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh indol sớm hay muộn. multocida sẽ mất đặc tính sinh indol khi cấy chuyển nhiều lần trên môi trường nhân tạo. Nhưng chúng sẽ có lại đặc tính này khi tăng cường giống bằng cách tiêm truyền cho bản động vật.
Ngoài ra vi khuẩn này còn cho kết quả catalazavà oxydaza dương tính. Nhiều nghiên cứu đã cho biết đặc tính sinh hóa của các chủng P.multocida được phân lập từ các vùng khác nhau: Phùng Duy Hồng Hà (1990) đã nghiên cứu về khả năng lên men đường của P. multocida phân lập từ gia cầm bị bệnh Tụ huyết trùng tại Việt Nam, chúng có đặc tính hoá thông thường như lên men glucose, sucrose. Riêng đường sorbitol có 3 chủng luôn cho phản ứng âm tính, 3 chủng luôn cho phản ứng dương tính, 26 chủng còn lại cho kết quả thay đổi, lúc âm lúc dương.multocida trên lợn của Úc và Việt Nam của Trần Xuân Hạnh (2002) cho thấy khoảng 24,1% dương tính với đường lactose và 100% dương tính với đường sorbitol.
Đặc tính sinh hóa chung của Pasteurella multocida (Theo Smith JE, 1959) Đặc tính sinh hóa Kết quả Dung huyết - Glucoza + Lactoza - H2 S - Catalaza + Oxidaza + Indol + Ureaza - Chú thích: “-”: âm tính, “+” : dương tính. Theo Hoàng Ðăng Huyến (2004) nghiên cứu về đặc tính sinh hóa của vi khuẩn P. multocida phân lập từ trâu, bò tại Bắc Giang và Phạm Thị Phương Lan và cộng sự (2012) xác định đặc tính sinh hóa các chủng vi khuẩn này tại hai tỉnh Hà Giang và Cao Bằng đều cho biết 100% các chủng P. Multocida đều lên men các đường glucose, mannitol, saccarose, fructose, galactose và sorbitol, không lên men đường lactose,mantose, arabinose.
Sức đề kháng Vi khuẩn P. multocida có sức đề kháng yếu với các chất sát trùng thông thường, chúng không thể tồn tại lâu ngoài cơ thể động vật, ánh sáng mặt trời và sức nóng. multocida có thể tồn tại trong đất ẩm, nền chuồng, trên đồng cỏ đến hàng tháng, có khi hàng năm. multocida bị tiêu diệt trong vài giây ở 1000C, 3-5 phút ở nước vôi 1% (Nguyễn Như Thanh, 2001).
Kháng nguyên Kháng nguyên của P. multocida có cấu trúc phức tạp và luôn thay đổi. Chúng bao gồm hai loại kháng nguyên là kháng nguyên vỏ và kháng nguyên thân. - Kháng nguyên vỏ (K) Kháng nguyên vỏ là một bản kháng nguyên, có bản chất là một polysaccarit, che phủ lớp kháng nguyên O.
Kháng nguyên vỏ có tính kháng nguyên yếu không có khả năng tạo được sự bảo hộ chuột và thỏ khi thử thách bằng công cường độc. Bằng phương pháp bảo hộ chéo trên chuột bạch Robert (1947) đã c 7 xác định P. Multocida có 4 loại kháng nguyên vỏ và được ghi lại theo số La mã là I, II, III và IV. Đến năm 1961, bằng phản ứng ngưng kết Carter đã xác định thêm type mới đặt tên là E, tác giả đề nghị bỏ type C và bổ sung thêm type F vào năm 1963.
- Kháng nguyên thân (O) Kháng nguyên thân lipopolysaccharide của vi khuẩn P. multocida được Pirosky thông báo vào năm 1938. Kháng nguyên thân có 2 nhóm đặc hiệu và không đặc hiệu. Các chủng khác nhau sẽ khác nhau về kháng nguyên thân.
Chỉ có serotyp B hầu như đồng nhất thuộc một nhóm kháng nguyên thân. Kháng nguyên thân có 2 hệ thống phân loại là phân loại theo Namioka và Murata (1961), kháng nguyên thân có 12 yếu tố và phân loại theo Heddleston (1972), kháng nguyên thân có 16 yếu tố. Lipopolysaccharide là kháng nguyên thân quan trọng, có khả năng tạo đáp ứng miễn dịch cao và đóng vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch dịch thể (Ryu H. Những hiểu biết về bệnh Tụ huyết trùng ở bò 1.
Dịch tễ học a. Loài mắc bệnh Trong tự nhiên hầu hết các loài gia súc, gia cầm, loài có vú và loài chim đều mẫn cảm với bệnh. Theo Lignieres (1900) ít nhất có 6 dạng bệnh tụ huyết trùng khác nhau: Ở gà, trâu, bò, lợn, cừu, dê, ngựa và chó, cả 6 dạng bệnh này đều thấy ở thỏ. Bệnh thấy ở trâu, bò, lợn, thỏ, chó, mèo, hươu, ngựa, chồn, khỉ, dê và cừu (Carter, 1959).
Bệnh còn thấy ở bò rừng, nai, sơn dương, lợn rừng, thỏ rừng, voi, lạc đà và báo tuyết ở Hymalaya (De Alwis, 1982). Nhiều tác giả đã khẳng định: Nơi nào có bệnh tụ huyết trùng trâu, bò thì ở đó người ta cũng phát hiện bệnh này ở động vật hoang dã. De Alwis (1982) cho rằng loài vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với bệnh tụ huyết trùng là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò. Ở Việt c 8 Nam, trâu dễ bị nhiễm và mắc bệnh nặng hơn bò.Trâu, bò rừng cũng mắc bệnh (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987).
Trâu thường chết khi gặp thể quá cấp hoặc cấp tính. Trong phòng thí nghiệm, mức độ mẫn cảm của động vật thí nghiệm với vi khuẩn P. multocida thuộc serotype B:2 giảm dần theo thứ tự thỏ, chuột bạch, trâu bò, chuột lang, bồ câu, lợn, ngựa, cừu và cuối cùng là dê. Chó, gà, vịt không mẫn cảm (Bain R.
Ngoài ra, một số bệnh Tụ huyết trùng cũng đã được thông báo trên lạc đà và hươu. Một số ổ dịch Tụ huyết trùng trâu bò có thể xảy ra đồng thời với bệnh Tụ huyết trùng ở lợn và ngựa. Tại Quảng Ninh đã xác nhận xác lợn rừng chết trong ổ dịch Tụ huyết trùng trâu, bò (Bùi Quý Huy, 1988).Năm 2002, tại Kontum có ghi nhận một ổ dịch Tụ huyết trùng ở trâu, bò và lợn.