MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu Du lịch là một hoạt động thiết yếu trong nhu cầu của con người và đã trở thành tiêu chuẩn cuộc sống. Trong nhiều năm qua, nền kinh tế Việt Nam phát triển không ngừng, kết hợp với xu hướng toàn cầu đã giúp kinh tế của Việt Nam vượt qua những khó khăn dé trở thành quốc gia có thu nhập cao và tỷ lệ nghèo giảm đáng kẻ. Nhờ việc chú trọng phát triển, nền kinh tế đã và đang cải thiện từng ngày đời sống về vật chất lẫn tinh thần của nhân dân.
Điều kiện về kinh tế trở nên tốt hơn đã khiến nhu cầu du lịch của người dân trong nước ngày càng cao hơn. Du khách mong muốn tham gia vào hoạt động du lịch nhiều hơn, đi xa hơn và khao khát được trải nghiệm nhiều loại hình du lịch hơn. Theo xu hướng phát triển của kinh tế trên thé giới hiện nay thì ngành du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng, có đóng góp lớn vao tỷ trọng GDP của một quốc gia. Hiện nay, ngành du lịch đã trở thành kinh tế mũi nhọn tại nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có định hướng và chiến lược phát triển du lịch Việt Nam trong hiện tại và cả tương lai. Cụ thê, ngày 06/10/2017, chính phủ ban hành Nghị quyết số 8-NQ/TW của Bộ Chính trị tại Khóa họp lần thứ XII về “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”. Du lịch phát triển sẽ tác động tích cực đến cả nền kinh tế và xã hội. Bên cạnh đó, du lịch còn là một ngành kinh tế liên ngành, khi du lịch phát triển sẽ thúc đầy các ngành kinh tế khác phát triển theo.
Sự phát triển bền vững của du lịch sẽ tác động tích cực đến môi trường chính trị và văn hóa xã hội của đất nước làm du lịch. Việt Nam có một hệ thống tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú. Tài nguyên du lịch là tiền đề để phát triển du lịch. Nhờ có địa hình đa đạng và bờ biên dài, Việt Nam có nhiều cảnh quan đẹp trải dài từ Bắc vào Nam, là nền tảng vững chắc trong việc phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch khám phá.
Với bề dày lịch sử hơn 4000 năm, Việt Nam tập trung một chuỗi lớn tài nguyên nhân văn và tự nhiên nồi tiếng góp phần quan trọng cho sự hình thành du lịch văn hóa. Trong đó, hình thức du lịch mà nghiên cứu sinh muốn nhắc tới là du lịch đến các điểm di tích lịch sử cách mạng và chiến tranh - thường được gọi là “du lịch về nguồn”. Hiện tại các điểm 2 di tích lịch sử cách mạng và di tích lịch sử chiến tranh thu hút nhiều đối tượng và thành phần tham gia từ học sinh — sinh viên đến công nhân, cán bộ, công - viên chức nhà nước cho đến các cựu chiến binh v. Đây là loại hình du lịch hoạt động quanh năm và ít chịu tác động bởi các yếu tố về mùa vụ như các loại hình du lịch khác.
Du lịch đến các di tích lịch sử cách mạng và di tích lịch sử chiến tranh không chỉ đáp ứng nhu cầu về du lịch thuần túy, mà còn đáp ứng nhiều yêu cầu khác như học tập, giáo dục, đền ơn đáp nghĩa v., va đặc biệt điều đó còn có thé giữ gìn truyền thống và bản sắc văn hóa của người Việt Nam. Do nhu cầu của du khách ngày càng tăng mạnh nên hiện nay có nhiều công ty du lịch đang chú trọng khai thác và tổ chức các tour du lịch đến các địa điểm này. Loại hình du lịch tham quan các địa điểm lịch sử cách mạng và di tích lịch sử chiến tranh đã trở nên phổ biến, ngày càng được nhiều du khách chọn lựa. Việt Nam sở hữu một hệ thống di tích lịch sử và văn hóa nổi tiếng gắn liền với bề dày lịch sử giữ nước như hệ thống di tích lịch sử nhà tù tại Côn Đảo ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, địa đạo Củ Chỉ tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành cổ Quảng Tri tại tỉnh Quảng Trị, khu di tích lịch sử ATK tại tỉnh Tuyên Quang, khu di tích Pac Pó tại tỉnh Cao Bằng, quảng trường Ba Đình tại thành phó Hà Nội, khu di tích Kim Liên tại tỉnh Nghệ An, khu mộ đại tướng Võ Nguyên Giáp tại tỉnh Quảng Bình.
Ngoài ra, Việt Nam còn nhiều điểm di tích lịch sử khác trải dài trên khắp mọi miền của Tổ quốc gắn liền với nhiều tài nguyên thiên nhiên nồi tiếng dé phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch kết hợp giữa du lịch về nguồn và các loại hình du lịch khác. Như vậy, để đánh giá đúng din về sự phát triển của “du lịch về nguồn” trong những năm qua của Việt Nam, cùng với các ý nghĩa thực tế qua việc nghiên cứu sự lựa chọn của du khách về hình thức du lịch này, tác giả chọn thực hiện dé tài: “Du lich về nguồn ở Việt Nam: tiếp cận từ sự lựa chọn của du khách” cho luận án tiễn sĩ chuyên ngành Dân tộc học. Lịch sứ nghiên cứu vấn đề Không chỉ ở Việt Nam có những di tích do chiến tranh để lại, mà trên thế giới cũng có những quốc gia, những dân tộc đã trải qua những cuộc chiến tranh hào hùng để có được nền độc lập và hòa bình. Hệ thống di tích lịch sử chiến tranh cũng từ đó mà hình thành.
Hiện tượng du khách đến tham quan và trải nghiệm tại các điểm di tích lịch sử chiến tranh ngày càng phổ biến. Tùy theo đối tượng và mục đích của chuyến đi sẽ có những hoạt động du lịch khác nhau. Trong đề tài này, tác giả đã tiếp cận các nghiên cứu về vấn đề này của các học giả trong và ngoài nước được trình bày sau đây. Du lịch chiễn tranh (war tourism) 2.
Những nghiên cứu về du lịch chiến tranh (war tourism) trên thé giới Du lịch chiến tranh dựa trên các điểm đến là di tích lịch sử có liên quan đến chiến tranh nên những hoạt động, mục đích và ý nghĩa của nó cũng khác so với các loại hình du lịch khác. Đặc điểm và đặc trưng của du lịch chiên tranh được phân tích bởi các nhà nghiên cứu như Li và cộng sự, 2010; Kirk A. Timothy, 1996; Lowenthal, 1975; Caraba và cộng sự, 2011; Kirk A. Hanna va cộng sự, 2015; Dallen J.
Timothy, 1996, va Lowenthal, 1975. o Di tích lịch sử chiến tranh là điểm đến du lich Trong tác phẩm “Battlefield tourism Pilgrimage and the Commemoration of the Great War in Britain, Australia and Canada (Du lịch hành hương về chiến trường và sự tưởng niệm về Đại Chiến ở Anh, Úc và Canada)”, 1919-1939 (1998), David W. Lloyd chi ra những hoạt động chủ yếu trong du lịch chiến tranh nhằm so sánh du lịch và hành hương đến chiến trường xưa, nghĩa trang và đài tưởng niệm chiến tranh tại hai quốc gia Úc và Canada trong những năm 1920 và 1930. Nghiên cứu này đề cập đến các cuộc hành hương của những người thân, bạn bè và nhiều tập thé khác liên quan đến chủ thể tham gia cuộc chiến, chủ yếu là cuộc hành hương của khách du lịch và những người muốn tìm hiểu về chiến tranh.
Những chuyến hành hương như thế trở thành những sự kiện phổ biến, được mô tả và phân tích trong các tạp chí, báo chí. Tác giả cũng trình bày về ý nghĩa những chuyến tham quan của du khách là trải nghiệm về 4 thời chiến, tìm hiểu và học tập những kiến thức về chiến tranh, hoặc đưa suy nghĩ cũng như gợi lên trí tưởng tượng của khách du lịch về cuộc chiến. Ông còn mô tả những chuyến đi cùng với những hoạt động của khách du lịch. Những thông điệp và ý nghĩa của du lịch chiến tranh được xem xét thông qua hoạt động du lịch và hoài niệm về cuộc chiến trong tác phẩm của Stephen P.
Hanna và cộng sự (2015), “Social Memory and Heritage Tourism Methodologies (Ký ức xã hội và phương pháp luận du lịch di san)”. Nhóm tác giả cho rằng loại hình du lịch đến những điểm di tích lịch sử - chiến tranh phản ánh lại về thời đại chiến tranh vĩ đại. Ngoài ra, loại hình du lịch này còn đề cập đến các thông điệp chính trị khác nhau, các thông điệp hòa bình đến các tuyên bố về lòng yêu nước và sự đa dạng văn hóa trong các chính sách liên quan đến bảo tồn di sản chiến tranh. Khia cạnh được chú trọng trong du lịch là phản ánh các giá trị về cuộc chiến tranh, xây dựng khu di tích lịch sử chiến tranh trở thành di sản và nơi đó đương nhiên sẽ là nơi hoài niệm về những cuộc chiến tranh vĩ đại.
Nghiên cứu của Dallen J. Timothy (1996), “Tourism and the Personal Heritage Experience (Du lịch và trải nghiệm di sản của cá nhân)”, chỉ ra hình thức du lich cá nhân và tam quan trọng của nó đang gia tăng trong xu hướng phát triển du lịch. Lowenthal (1975) cho rằng: “Đối với người Mỹ, Chuông Tự do và Hội trường Độc lập ở Philadelphia là đại diện cho các di sản tập thể, di sản quốc gia có thể gây cảm giác mạnh mẽ về lòng yêu nước. Ở cấp quốc gia, di tích lịch sử thường đại diện cho lý tưởng quốc gia bên vững, và niềm tự hào dân tộc có thể là một kích thích quan trọng để bảo tôn môi trường xây dựng trong xã hội phương Tây” (Lowenthal, 1975, tr.
Li và cộng sự (2010) nghiên cứu. về “du lịch đỏ” tại Trung Quốc, kết quả nghiên cứu quan trọng thứ nhất của công trình là chính phủ Trung Quốc muốn giữ vững chế độ Đảng cộng sản cho nên nhà nước áp dụng nhiều chiến lược, mà trong đó có chiến lược “du lịch đỏ” nhằm nhắc lại lịch sử cách mạng của những người cộng sản để chuyển tải thông điệp đến người dân Trung Quốc. Đặc biệt là truyền tải đến thế hệ trẻ về những đóng góp hàng đầu của ĐCSTQ cho độc lập và thịnh vượng của quốc gia. Kết quả nghiên cứu thứ hai chỉ ra rằng khoảng cách kinh tế giữa các khu vực không có di sản cách mạng cộng sản với nơi có di sản cách mạng cộng sản quá chênh 5 lệch, cho nên “du lịch đỏ” phát triển sẽ đảm bao phát triển kinh tế cho các khu vực có di sản cách mạng cộng sản.
Từ đó, chính phủ sẽ có mối quan tâm, chăm lo tốt hơn cho việc phát triển kinh tế của các vùng nội địa nghèo khó, nhất là các vùng căn cứ cách mạng cộng sản trước đây, để giữ én định chính trị xã hội. Do đó, “du lịch đỏ” được sử dụng như một chiến lược nhằm thúc day sự tăng trưởng của nên kinh tế địa phương.