Tổng quan nghiên cứu
Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng sở hữu tổng diện tích tự nhiên 17.641 ha, được ví như lá phổi xanh và trung tâm đa dạng sinh học đặc sắc của khu vực miền Trung. Trong giai đoạn 2009 – 2013, sự bùng nổ của hạ tầng du lịch đại chúng và tổ hợp giải trí nhân tạo đã thu hút hàng triệu lượt khách, nhưng đồng thời tạo ra áp lực nặng nề lên hệ sinh thái rừng nhiệt đới nguyên sinh. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là sự phát triển nóng của du lịch thương mại đang tách rời cộng đồng bản địa, khiến người dân tại hai xã vùng đệm Hòa Ninh và Hòa Phú (huyện Hòa Vang) chưa được hưởng lợi tương xứng từ nguồn tài nguyên quê hương, dẫn đến nguy cơ xung đột giữa mục tiêu bảo tồn sinh thái và nhu cầu mưu sinh thường nhật.
Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá hiện trạng tài nguyên thiên nhiên, đo lường mức độ tham gia thực tế của người dân địa phương, từ đó xây dựng mô hình phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng một cách bền vững. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn không gian trên 17.641 ha vùng lõi, vùng phục hồi sinh thái và địa bàn dân cư hai xã Hòa Ninh, Hòa Phú; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu chuyên sâu từ năm 2011 đến năm 2013 và cập nhật các chuỗi số liệu hoạt động đến năm 2015.
Về mặt ý nghĩa, công trình mang lại giá trị ứng dụng cao khi thiết lập khung điều tiết cân bằng giữa bảo tồn và sinh kế. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương và các nhà quản lý chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng đệm, hướng tới mục tiêu gia tăng tối thiểu 30% đến 40% thu nhập cho các hộ tham gia chuỗi dịch vụ du lịch bản địa, đồng thời giảm thiểu trên 80% các hành vi xâm hại tài nguyên rừng trái phép.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết du lịch sinh thái hiện đại khởi xướng bởi Hector Ceballos-Lascurain (1987) và chuẩn hóa bởi Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), khẳng định du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm tại các vùng tự nhiên hoang sơ, đóng góp trực tiếp cho bảo tồn và nâng cao phúc lợi của cư dân bản địa. Luận văn quán triệt sâu sắc ba đặc trưng cốt lõi: hoạt động trải nghiệm hòa nhập thiên nhiên nguyên sơ, cơ chế doanh thu tái đầu tư cho bảo vệ môi trường, và nguyên lý quy mô "nhỏ là đẹp" nhằm duy trì ngưỡng tải an toàn.
Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết tương tác điểm đến và khung phân tích bốn kịch bản quan hệ giữa cộng đồng với hoạt động du lịch của Shalini Singh cùng các cộng sự (2003), bao gồm: kịch bản Thắng – Thắng (Win – Win), Thắng – Thua (Win – Lose), Thua – Thắng (Lose – Win) và Thua – Thua (Lose – Lose). Luận văn định vị rõ ba cấp độ tham gia của cộng đồng địa phương: cấp độ Thụ động (chỉ đóng vai trò là tài nguyên tĩnh), cấp độ Có tham gia (cung cấp dịch vụ bán phần), và cấp độ Chủ động (đồng quản lý, tự chủ vận hành mô hình du lịch dựa vào cộng đồng). Các khái niệm then chốt như sức chứa sinh thái, đa dạng sinh học và phát triển bền vững được liên kết chặt chẽ để tạo nên khung phân tích toàn diện.
+-------------------------------------------------------------+
| KHUNG LÝ THUYẾT DU LỊCH SINH THÁI CỘNG ĐỒNG (CBT) |
+-------------------------------------------------------------+
|
+----------------------------+----------------------------+
| |
v v
+-----------------------------+ +-----------------------------+
| BẢO TỒN SINH THÁI | <=== Quan hệ Win-Win ===> | SINH KẾ CỘNG ĐỒNG |
| - Diện tích: 17.641 ha | (Shalini Singh, 2003) | - Xã Hòa Ninh & Hòa Phú |
| - Ngưỡng tải: C_st max | | - 3 Cấp độ tham gia |
| - Tái đầu tư doanh thu | | - Tự chủ & Đồng quản lý |
+-----------------------------+ +-----------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa, Hạt Kiểm lâm và Ủy ban nhân dân hai xã Hòa Ninh, Hòa Phú. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quá trình khảo sát thực địa dọc các tuyến Suối Mơ, chân núi Bà Nà, đỉnh Núi Chúa và hệ thống đường mòn rừng đặc dụng.
Phương pháp điều tra xã hội học được triển khai với tổng quy mô mẫu là 285 đối tượng, áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng:
- Nhóm du khách: 150 phiếu khảo sát nhằm đo lường mức độ hài lòng và kỳ vọng trải nghiệm sinh thái.
- Nhóm hộ dân địa phương: 120 phiếu phỏng vấn cấu trúc tại xã Hòa Ninh và xã Hòa Phú để đánh giá thực trạng thu nhập và khả năng sẵn sàng tham gia cung ứng dịch vụ.
- Nhóm chuyên gia và cán bộ quản lý: 15 cuộc phỏng vấn sâu nhằm thu thập ý kiến chuyên môn về quy hoạch và quản trị rủi ro môi trường.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính là nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học khi đánh giá mức độ hấp dẫn điểm đến thông qua chỉ số TAM (Tourists’ Attractive Measure) của Lea (1988) theo công thức:
$$TAM = \frac{1}{10}(A - B)$$
Trong đó $A$ là tập hợp điểm tiêu chí gia tăng hấp dẫn (tối đa 10 điểm) và $B$ là tập hợp điểm tiêu chí làm suy giảm hấp dẫn (tối đa 10 điểm). Đồng thời, tác giả áp dụng công thức xác định hệ số thời vụ $I_j$ qua 12 tháng và công thức sức chứa sinh thái tức thời:
$$C_{st\max} = \left(\frac{A}{a}\right) \times \left(\frac{T}{t}\right)$$
Nhằm tính toán chính xác lượng khách tối đa cho phép trên các tuyến đường mòn trekking nhạy cảm. Quá trình xử lý số liệu được thực hiện chặt chẽ trong timeline nghiên cứu từ năm 2011 đến 2013 và hoàn thiện toàn bộ luận án vào năm 2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Qua quá trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu thống kê, luận văn đã làm rõ bốn phát hiện trọng tâm:
-
Tiềm năng đa dạng sinh học đặc sắc nhưng phân bổ thụ hưởng bất cân đối: Khu bảo tồn lưu giữ 1.226 loài thực vật bậc cao có hoa và hàng trăm loài động vật hoang dã quý hiếm. Chỉ số hấp dẫn du lịch sinh thái tổng hợp (TAM) đạt 0,72 điểm, minh chứng cho sức hút tự nhiên rất lớn. Tuy nhiên, hơn 90% lượng khách tập trung cục bộ tại các khu vui chơi nhân tạo trên đỉnh Bà Nà, trong khi không gian sinh thái nguyên sinh 17.641 ha hầu như chưa được khai thác trải nghiệm có kiểm soát.
-
Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương còn ở mức sơ khai: Kết quả khảo sát 120 hộ dân tại hai xã Hòa Ninh và Hòa Phú cho thấy chỉ có khoảng 13,3% lao động địa phương có việc làm liên quan trực tiếp đến hoạt động du lịch (chủ yếu là lao động phổ thông, bảo vệ, tạp vụ thời vụ). Thu nhập bình quân từ du lịch chỉ đóng góp khoảng 8,5% vào tổng cơ cấu thu nhập hộ gia đình, trong khi trên 75% thu nhập vẫn phụ thuộc vào canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản phụ.
-
Tính mùa vụ thể hiện sự chênh lệch sâu sắc: Phân tích chỉ số thời vụ $I_j$ trong chuỗi số liệu 5 năm liên tục (2009 – 2013) cho thấy lượng khách đạt đỉnh cực đại vào các tháng 5, 6, 7 và 8 với hệ số $I_j > 1,65$, cao gấp 2,8 lần so với các tháng mùa mưa (tháng 10, 11, 12 với $I_j < 0,58$). Sự dao động này gây ra tình trạng quá tải hạ tầng sinh thái cục bộ trong mùa hè và lãng phí nguồn nhân lực bản địa trong mùa thấp điểm.
-
Kỳ vọng cao của du khách và sự sẵn sàng của cư dân: Có tới 78,6% du khách được hỏi bày tỏ mong muốn trải nghiệm các tour đi bộ xuyên rừng, tìm hiểu thảm thực vật và thưởng thức nông sản hữu cơ bản địa. Song song đó, 85,8% người dân địa phương khẳng định sẵn sàng tham gia các lớp tập huấn kỹ năng hướng dẫn viên, cung cấp dịch vụ lưu trú homestay và ẩm thực truyền thống nếu có cơ chế hỗ trợ nguồn vốn ban đầu.
Thảo luận kết quả
Thực trạng tỷ lệ tham gia thấp của cư dân bắt nguồn từ việc thiếu vắng một cơ chế liên kết thể chế và chính sách chia sẻ lợi ích rõ ràng giữa doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, Ban Quản lý rừng đặc dụng và chính quyền địa phương. Khi so sánh với các điển hình quốc tế trong luận văn như Vườn quốc gia Gunung Halimun (Indonesia) – nơi cộng đồng được hưởng 30% lương dịch vụ trực tiếp và 13,3% đến 15% quỹ phát triển thôn bản, hoặc Vườn quốc gia Mae Hong Son (Thái Lan) – nơi người dân bản Huay Hee nhận tới 80% doanh thu dịch vụ, có thể thấy mô hình tại Bà Nà – Núi Chúa đang rơi vào kịch bản Thua – Thắng (Lose – Win). Doanh nghiệp thu lợi nhuận lớn nhưng cộng đồng địa phương chịu tổn thất về không gian sinh kế và đối mặt với nguy cơ biến đổi môi trường.
+---------------------------------------------------------------+
| CƠ CẤU THU NHẬP HỘ DÂN XÃ HÒA NINH & HÒA PHÚ (KHẢO SÁT 2013) |
+---------------------------------------------------------------+
| Canh tác nương rẫy & Lâm sản phụ: [##################] 75.0% |
| Hoạt động tiểu thủ công & Dịch vụ: [####] 16.5% |
| Thu nhập trực tiếp từ Du lịch: [##] 8.5% |
+---------------------------------------------------------------+
Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nhu cầu trực quan hóa thông tin quản trị:
- Biểu đồ tròn (Pie Chart): Minh họa cơ cấu phân bổ dòng tiền doanh thu du lịch, thể hiện rõ mức độ phân hóa giữa lợi nhuận doanh nghiệp lớn và tỷ lệ tái đầu tư cho bảo tồn cùng cộng đồng (hiện tại dưới 5%).
- Biểu đồ đường (Line Chart): Thể hiện chuỗi biến thiên hệ số thời vụ $I_j$ suốt 12 tháng trong năm, chỉ ra điểm gãy cung ứng dịch vụ để các bên xây dựng kịch bản điều tiết luồng khách.
- Bảng ma trận SWOT: Định vị điểm mạnh về đa dạng sinh thái, điểm yếu về kỹ năng dịch vụ của người dân, cơ hội từ xu hướng du lịch xanh, và thách thức quá tải sức chứa nhằm bảo vệ vùng lõi rừng đặc dụng.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích định lượng và bài học kinh nghiệm quốc tế, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:
-
Thiết lập và vận hành thử nghiệm tuyến du lịch sinh thái "Con đường chim Khướu":
- Hành động: Quy hoạch tuyến trekking dài khoảng 6 km từ chân núi Suối Mơ lên sườn Đông Bà Nà, tích hợp các trạm dừng chân quan sát chim và diễn giải môi trường rừng nhiệt đới.
- Chỉ số mục tiêu (Target Metric): Đón tiếp an toàn 15.000 đến 20.000 lượt khách/năm; khống chế sức chứa tối đa không quá 120 khách/ngày; tạo việc làm trực tiếp cho 40 đến 50 lao động bản địa.
- Thời gian thực hiện (Timeline): Triển khai trong 18 tháng kể từ khi phê duyệt đề án.
- Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Hòa Ninh và các đơn vị lữ hành chuyên tour sinh thái.
-
Xây dựng cơ chế phân phối lợi ích tài chính minh bạch theo chuẩn quốc tế:
- Hành động: Ban hành quy chế trích lập quỹ phát triển du lịch sinh thái cộng đồng từ doanh thu vé tham quan và dịch vụ trải nghiệm.
- Chỉ số mục tiêu: Tối thiểu 70% doanh thu dịch vụ trực tiếp chi trả cho tổ hợp tác cư dân; trích lập 15% vào Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng; 10% cho Quỹ an sinh xã hội địa phương và 5% chi phí quản trị giám sát.
- Thời gian thực hiện: Hoàn thiện khung cơ chế trong 12 tháng.
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang, Sở Tài chính Đà Nẵng và Ban Quản lý Khu bảo tồn.
-
Triển khai chương trình đào tạo nghề và kỹ năng diễn giải môi trường:
- Hành động: Tổ chức 8 khóa tập huấn chuyên sâu về kỹ năng sơ cấp cứu rừng, ngoại ngữ giao tiếp cơ bản, nghệ thuật kể chuyện văn hóa bản địa và kỹ thuật phục vụ ẩm thực an toàn vệ sinh.
- Chỉ số mục tiêu: Đào tạo đạt chuẩn 100% cho 150 học viên là người dân địa phương tại hai xã Hòa Ninh và Hòa Phú; nâng tỷ lệ lao động tham gia du lịch từ 13,3% lên 45% trong toàn xã.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện liên tục trong lộ trình 24 tháng.
- Chủ thể thực hiện: Sở Du lịch Đà Nẵng, các trường đại học chuyên ngành và Trung tâm Khuyến nông – Lâm nghiệp.
-
Kiểm soát nghiêm ngặt sức chứa sinh thái và giám sát tác động môi trường:
- Hành động: Ứng dụng công thức $C_{st\max}$ vào phần mềm điều phối lượng khách tự động; thiết lập 6 trạm quan trắc tự động về chất lượng nước, không khí và tần suất bắt gặp động vật hoang dã.
- Chỉ số mục tiêu: Giữ vững 100% diện tích rừng tự nhiên không bị suy thoái sinh khối; xử lý triệt để 100% rác thải sinh hoạt phát sinh từ các tour trekking theo nguyên tắc "không để lại dấu vết".
- Thời gian thực hiện: Định kỳ đánh giá 6 tháng/lần, duy trì xuyên suốt vòng đời dự án.
- Chủ thể thực hiện: Hạt Kiểm lâm Bà Nà – Núi Chúa chủ trì phối hợp cùng các tổ tuần tra rừng cộng đồng tự quản.
+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| MA TRẬN KHUYẾN NGHỊ VÀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC THỰC HIỆN |
+------------------------------+--------------------+------------------+--------------------------------+
| Nhóm giải pháp trọng tâm | Target Metric | Timeline | Chủ thể chịu trách nhiệm chính |
+------------------------------+--------------------+------------------+--------------------------------+
| Tuyến "Con đường chim Khướu" | 15.000-20.000 lượt | 18 tháng | BQL Khu bảo tồn & UBND xã |
| Cơ chế phân bổ doanh thu | 70% cho cộng đồng | 12 tháng | UBND huyện Hòa Vang & Sở TC |
| Đào tạo kỹ năng diễn giải | 150 cư dân đạt CTC | 24 tháng | Sở Du lịch & ĐH chuyên ngành |
| Giám sát sức chứa C_st max | 0% suy thoái rừng | Định kỳ 6 tháng | Hạt Kiểm lâm & Tổ tự quản CĐ |
+------------------------------+--------------------+------------------+--------------------------------+
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và khung phương pháp luận của đề tài mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia:
- Lợi ích: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với du lịch sinh thái.
- Use case: Ứng dụng quy trình tính toán chỉ số TAM và công thức sức chứa $C_{st\max}$ để lập quy hoạch phân khu chức năng cho hơn 30 khu bảo tồn có điều kiện tương đồng trên toàn quốc.
-
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành và phát triển du lịch bền vững:
- Lợi ích: Tiếp cận phương pháp thiết kế sản phẩm du lịch có trách nhiệm, đáp ứng xu hướng du lịch xanh toàn cầu.
- Use case: Sử dụng lộ trình tuyến "Con đường chim Khướu" và các bài học định vị sản phẩm để thương mại hóa các gói tour trekking, bird-watching và team building giáo dục sinh thái.
-
Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Du lịch, Lâm nghiệp, Địa lý môi trường:
- Lợi ích: Làm tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu liên ngành xã hội học và sinh thái học.
- Use case: Kế thừa thang đo bảng hỏi khảo sát 285 mẫu phân tầng, cấu trúc ma trận phân tích dữ liệu và hệ thống lý thuyết về các cấp độ tham gia của cộng đồng.
-
Chính quyền địa phương cấp huyện/xã vùng đệm và các tổ chức phi chính phủ (NGO):
- Lợi ích: Nắm bắt mô hình tổ chức sinh kế dựa vào cộng đồng nhằm giảm thiểu áp lực khai thác rừng trái phép.
- Use case: Triển khai thành lập các Hợp tác xã du lịch sinh thái nông nghiệp tại xã Hòa Ninh, Hòa Phú để tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi phát triển nông thôn mới bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Mô hình du lịch sinh thái cộng đồng trong luận văn khác biệt như thế nào so với du lịch nghỉ dưỡng hiện có tại Bà Nà?
Du lịch nghỉ dưỡng đại chúng tập trung xây dựng các công trình nhân tạo quy mô lớn trên đỉnh núi, phục vụ số lượng khách đông nhưng hạn chế sự tham gia của người dân bản địa. Ngược lại, mô hình du lịch sinh thái cộng đồng tập trung khai thác không gian tự nhiên nguyên sinh trên 17.641 ha, triệt để tuân thủ nguyên tắc quy mô nhỏ, giữ nguyên cảnh quan tự nhiên và phân phối trực tiếp từ 70% doanh thu dịch vụ cho người dân hai xã Hòa Ninh, Hòa Phú.
Công thức sức chứa sinh thái $C_{st\max}$ được ứng dụng cụ thể ra sao trên các tuyến tham quan?
Công thức $C_{st\max} = (A/a) \times (T/t)$ xác định giới hạn du khách tối đa dựa trên độ dài đường mòn khả dụng ($A$), tiêu chuẩn không gian an toàn cho một khách ($a = 5\text{ m}$ khoảng cách), thời gian mở cửa hàng ngày ($T = 8\text{ giờ}$) và thời gian hoàn thành tour ($t = 4\text{ giờ}$). Nhờ đó, ban quản lý kiểm soát lượng khách trekking không vượt quá 120 khách/ngày, ngăn chặn hiện tượng xói mòn đất và xáo trộn tập tính động vật.
Người dân hai xã vùng đệm Hòa Ninh và Hòa Phú có thể tham gia những khâu dịch vụ nào?
Cư dân địa phương có thể tham gia trực tiếp vào 5 mắt xích chính: hướng dẫn viên dẫn đường đi bộ xuyên rừng, khuân vác hành lý chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ ẩm thực truyền thống từ nông sản an toàn tự trồng trọt, biểu diễn văn hóa bản địa và cung ứng vật dụng dã ngoại chuyên dụng, giúp tăng thu nhập hộ gia đình từ 3 triệu đến 5 triệu đồng/tháng.
Bài học lớn nhất rút ra từ các mô hình quốc tế tại Nepal, Indonesia và Thái Lan là gì?
Bài học cốt lõi là sự minh bạch và công bằng trong cơ chế phân chia lợi nhuận. Tại Vườn quốc gia Gunung Halimun (Indonesia), việc trích cố định 30% lương cho cộng đồng và 15% vào quỹ chung thôn bản đã biến người dân từ đối tượng khai thác rừng thành lực lượng tích cực tham gia bảo vệ 40.000 ha rừng nguyên sinh, mang lại sự phát triển bền vững lâu dài.
Làm thế nào để khắc phục tác động tiêu cực của tính mùa vụ du lịch tại Bà Nà – Núi Chúa?
Luận văn đề xuất chiến lược đa dạng hóa sản phẩm chuyên đề cho mùa mưa (tháng 10 đến tháng 12) khi hệ số $I_j$ giảm thấp. Các sản phẩm thay thế bao gồm: tour nghiên cứu rêu và nấm rừng nhiệt đới, các khóa thiền dưỡng sinh kết hợp giáo dục môi trường tại vùng đệm, và lễ hội ẩm thực nông sản mùa vụ trong nhà, giúp duy trì dòng thu nhập ổn định quanh năm cho cư dân.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng và đánh giá sâu sắc tiềm năng 17.641 ha rừng đặc dụng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa.
- Nghiên cứu chỉ ra nút thắt lớn nhất tại địa phương là sự tham gia của người dân hai xã Hòa Ninh, Hòa Phú còn thụ động (dưới 15% lao động tham gia, thu nhập từ du lịch chỉ đạt 8,5%).
- Đề tài đã tính toán thành công các chỉ số khoa học định lượng then chốt gồm chỉ số hấp dẫn $TAM = 0,72$, biến động thời vụ $I_j$ và ngưỡng sức chứa sinh thái $C_{st\max}$ làm công cụ điều tiết phát triển.
- Mô hình đề xuất tuyến "Con đường chim Khướu" cùng cơ chế phân bổ 70% doanh thu dịch vụ cho cộng đồng tạo bước đột phá trong quản trị tài nguyên theo hướng Win – Win.
- Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp một khung thực thi có tính khả thi cao, gắn kết lợi ích kinh tế của người dân vùng đệm với sứ mệnh bảo tồn thiên nhiên quốc gia.
Lộ trình triển khai tiếp theo cần thực hiện theo ba giai đoạn: hoàn thiện thể chế đồng quản lý trong 12 tháng đầu, vận hành thí điểm tuyến trekking sinh thái trong 24 tháng tiếp theo, và nhân rộng toàn diện ra toàn bộ các xã vùng đệm huyện Hòa Vang trong 36 tháng. Việc chuyển đổi từ tư duy khai thác tài nguyên thuần túy sang quản trị du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng chính là chìa khóa then chốt để gìn giữ bền vững di sản thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa cho các thế hệ tương lai.