Mở đầu. Chương II: Tổng quan Nghiên cứu. Chương III: Phương pháp Nghiên cứu. Chương IV: Kết quả Nghiên cứu.
Chương V: Kết luận và Khuyến nghị. CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về đòn bẩy tài chính 2. Khái niệm “Đòn bẩy tài chính” Trong lĩnh vực tài chính, thuật ngữ “đòn bẩy tài chính” được sử dụng khá phổ biến.
Đòn bẩy tài chính thường được gọi tắt là FL (Financial Leverage), là việc sử dụng các khoản nợ nhằm tăng thu nhập. Theo các tác giả Van Horne & Wachowicz (2008); Arnold (2013); Damodaran (2015) đòn bẩy tài chính xuất hiện do các công ty sử dụng các nguồn tài trợ với chi phí cố định, điển hình là các khoản nợ vay. Khái niệm “Tỷ lệ đòn bẩy tài chính” Tỷ lệ đòn bẩy tài chính là một chỉ số biểu thị mức độ sử dụng vốn vay bởi doanh nghiệp để tăng cường lợi nhuận, là công cụ giúp doanh nghiệp phân tích cơ cấu sử dụng nguồn vốn hợp lý. Thông tin liên quan đến vốn vay thường được công bố rõ ràng trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Hiểu cách áp dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính một cách hiệu quả có thể giúp doanh nghiệp mở ra những cơ hội phát triển. Khái niệm “Ngân hàng thương mại” Theo khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa “Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Vai trò và ý nghĩa Mặc dù đòn bẩy tài chính ẩn chứa nhiều rủi ro nhưng đó vẫn là công cụ ưa thích của các doanh nghiệp và những nhà đầu tư. Bởi đòn bẩy tài chính bù đắp sự thiếu hụt vốn của doanh nghiệp để duy trì các hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận với nhiều cơ hội đầu tư lớn và tiềm năng.
Đòn bẩy tài chính cũng được coi là công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy lợi nhuận, nhưng cần được sử dụng hợp lý kết hợp với phân tích kỹ lưỡng để đạt được lợi nhuận tối đa. “Công cụ” này cũng được coi là “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp. Bởi khi sử dụng các khoản vay cũng như phần tiền lãi cần trả như một phần của chi phí doanh nghiệp, sẽ được khấu trừ vào phần thu nhập phải chịu thuế khi quyết toán. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt mức thuế phải nộp mà vẫn gia tăng lợi nhuận.
Cơ sở lý thuyết liên quan đến đòn bẩy tài chính 2. Lý thuyết cơ cấu nguồn vốn của Modigliani va Miller (Lý thuyết M&M) Lý thuyết về mối quan hệ giữa cơ cấu nguồn vốn và giá trị doanh nghiệp xuất phát từ nghiên cứu của hai giáo sư Franco Modigliani và Merton Miller vào năm 1958, và sau đó được phát triển đến năm 1963, đây cũng là nền tảng cơ sở lý thuyết sau này ra đời. Lý thuyết M&M cho rằng: “Một thị trường hoàn hảo, cơ cấu vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp”. Nguyễn Minh Kiều (2010), về nội dung, lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng.
Mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị công ty. Mệnh đề thứ hai (II) nói về chi phí sử dụng vốn. Các mệnh dé này sẽ lần lượt được xem xét trong hai trường hợp, tương ứng với hai giả định chính, đó là giả định có thuế và giả định không có thuế. Trong trường hợp môi trường không có thuế, (Modigliani và Miller, 1958), giá trị của doanh nghiệp không thay đổi dựa trên việc có vay nợ hay không vay nợ.
Tức là, giá trị doanh nghiệp không phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn. Trong trường hợp môi trường có thuế, (Modigliani và Miller, 1963), giá trị của doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính thông qua vay nợ có thể cao hơn giá trị của doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy tài chính, nhờ được hưởng lợi từ giảm thuế. Trong bài nghiên cứu của mình TS. Lê Thị Nhung (2020), nhận xét: “Lý thuyết M&M về cơ cấu nguồn vốn được xem là lý thuyết hiện đại lý giải được mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp.
Lý thuyết M&M đã làm rõ thêm ảnh hưởng của cơ cấu nguồn vốn đến chi phí sử dụng vốn, giá trị doanh nghiệp”. Lý thuyết đánh đổi cơ cấu nguồn vốn dạng tĩnh Lý thuyết được kế thừa từ kết quả nghiên cứu của Miller va Modigliani, lý thuyết đánh đổi tĩnh về cơ cấu vốn được ra đời để giải thích về cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Trên nền tảng lý thuyết M&M, lý thuyết đánh đổi cơ cấu nguồn vốn dạng tĩnh được xem là một bước phát triển về lý luận khi xem xét đến tác động của thuế và chi phí khánh kiệt tài chính khi giải thích về cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Quan điểm về lý thuyết này được Bradley và cộng sự (1984) đưa ra rằng lý thuyết đánh tĩnh đã chỉ ra sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc sử dụng nợ.
Khi tỷ lệ nợ vay vượt quá mức tối ưu trong cấu trúc vốn, nguy cơ rủi ro của doanh nghiệp sẽ tăng lên. Mặc dù vay nợ có thể mang lại lợi ích về khả năng giảm thuế, trở thành lá chắn cho doanh nghiệp, nhưng sự gia tang nợ cũng đi kèm với các chi phí, bao gồm: chi phí đại diện, chi phí kiệt qué tài chính, va chi phí phá san. Vì vậy, khi doanh nghiệp sử dụng tài trợ từ bên ngoài cho các dự án đầu tư, họ cần xem xét việc phát hành cổ phiếu nếu đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp cao hơn so với mức đòn bẩy tài chính mục tiêu và xem xét việc phát hành trái phiếu để vay nợ nếu đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp thấp hơn so với mức đòn bẩy tài chính mục tiêu. Gia trị doanh nghiệp (V, ) Trưởng hợp Tk: có thuê Gia trị hiện tại của chỉ phí phá sin = Giả trị tàng thêm nhữ vào đản bay Irường hợp TI: lý thuyết đảnh doi tĩnh Vụ Trường hợp I: không có thuê Tổng nợ (D) Chỉ nhí văn | bình quan | gia quyea (WACC) | (%) | R - Trưởng hep I: không cỏ thuế Tiet kiệm rong nhữ vào don bảy emp me | [rường hop Il: lý thuyết đảnh đôi tĩnh WACC" Trường hop I: có thuê D/E Hình 2.
Minh họa lý thuyết đánh đổi tĩnh (Nguồn: Nguyễn Trọng Nghĩa, 2021) 2. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng được nghiên cứu và đưa ra bởi Myers & Majluf vào năm 1984. Nghiên cứu này phân chia nguồn tài trợ thành hai phần chính: Nguồn vốn bên trong (Lợi nhuận giữ lại) và nguồn vốn bên ngoài (bao gồm vốn vay và phát hành cổ phiếu mới), sau đó giải thích trật tự ưu tiên giữa các nguồn vốn này trong quá trình doanh nghiệp huy động vốn. Trong nghiên cứu Myers và Majluf (1984) cho rằng, các doanh nghiệp thường ưa thích sử dụng lợi nhuận giữ lại hơn là huy động vốn từ nguồn bên ngoài và phát hành cổ phiếu mới được xem là phương án cuối cùng.
Nói cách khác nguồn vốn bên trong thường được ưu tiên sử dụng trước khi xem xét đến việc huy động vốn bên ngoài. Lý thuyết trật tự ưu tiên này giải thích rằng doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên sử dụng nguồn vốn bên trong (lợi nhuận giữ lại) và chỉ khi cần thiết, họ mới xem xét việc huy động thêm vốn từ nguồn bên ngoài, và thậm chí ưu tiên sử dụng vốn vay trước. 10 Phát hành cổ phiếu mới thường được xem xét là tùy chọn cuối cùng, thường xuất hiện khi doanh nghiệp đã sử dụng hết khả năng vay nợ và đối mặt với rủi ro chỉ phí tài chính cho các nhà đầu tư hiện tại cũng như quản lý doanh nghiệp. Tổng quan các bài nghiên cứu về các tác động đến đòn bẩy tài chính 2.
Tổng quan các bài nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu của Gropp và Heider (2009) về “ Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn Ngân hàng” đã kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn Ngân hàng của các nước phát triển. Để thực hiện nghiên cứu này, họ đã thu thập dữ liệu từ 200 Ngân hàng ở Hoa Kỳ và Châu Âu trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến cuối năm 2004. Các tác giả đã tập trung vào 6 biến độc lập chính, bao gồm: tỷ lệ giá trị thị trường so với giá trị sổ sách (Market-to-Book ratio), lợi nhuận (Profits), quy mô (Size), tài sản thế chấp (Collateral), cổ tức (Dividends), và rủi ro (Risk). Ngoài ra, họ cũng sử dụng biến đại điện cho cấu trúc vốn Ngân hàng, gọi là biến Don bẩy tài chính, và tính toán nó dưới hai hình thức khác nhau: một là giá trị sổ sách (Book Leverage) và hai là giá trị thị trường (Market Leverage).
Nghiên cứu cũng đã bổ sung các biến vĩ mô bao gồm: Tăng trưởng, GDP, lạm phát, rủi ro trên thị trường chứng khoán. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng: Tăng trưởng, GDP và lạm phát có tác động cùng chiều lên đòn bẩy tài chính, trong khi rủi ro trên thị trường chứng khoán có tác động ngược chiều lên đòn bẩy tài chính. Trong bài nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến Cấu trúc vốn bằng chứng từ các Ngân hàng Thổ Nhĩ Ky” thực hiện với 25 Ngân hàng ở Thổ Nhĩ Ki, Ebru Caglayan và Nazan Sak (2010) đã sử dụng các biến phụ thuộc là Don bẩy tài chính và các biến độc lập là: Tỷ số giá trị thị trường so với giá trị sổ sách (Market-to-Book ratio), lợi nhuận (Profits), quy mô (Size) và tài sản hữu hình (Tangible asset). Tất cả các biến đều được tác giả đưa ra kết luận hầu hết các biến đều có ý nghĩa thống kê và tác động tới mô hình như sau: Tỷ số giá trị thị trường so với với giá trị sổ sách (MTB) và Quy mô (Size) đều tác động cùng chiều lên đòn bẩy tài chính, biến lợi nhuận (Profits), tài sản hữu hình (Tangible asset) tác động ngược chiều lên biến đòn bẩy tài chính.