Chương 1 thể hiện nội dung tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu và lý do cho nghiên cứu, đưa ra mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đề ra các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng cần nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó, xác định phương pháp nghiên cứu, đóng góp và ý nghĩa của bài nghiên cứu, đồng thời thiết lập rõ bố cục bài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Rủi ro tín dụng còn trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam 2.
Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Thomas P.Fitch (1997), “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ hay Keeton (1999), “Các khoản vay được gọi là rủi ro tín dụng nếu các khoản vay đó quá hạn trên 90 ngày hoặc không tích lũy lãi.” Theo Bessis (2011), “RRTD là rủi ro phát sinh tổn thất do suy giảm uy tín tín dụng của các đối tác. RRTD là rủi ro lâu đời nhất và quan trọng nhất đối với các ngân hàng”. Theo Báo cáo thường niên của Ngân hàng Hoàng gia Canada năm 2023 (Royal Bank of Canada Annual Report, 2023), “Rủi ro tín dụng là rủi ro mất vốn do bên đối tác không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Cũng có thể bao gồm cả sự mất đi giá trị thị trường do sự suy yếu vị thế tài chính của đối tác.
Đối tác có thể là nhà phát hành giấy tờ có giá, con nợ, người đi vay, nhà hoạch định chính sách, nhà tái bảo lãnh và bảo lãnh.” Theo hiệp ước Basel II (2004), “Rủi ro tín dụng đơn giản được định nghĩa là khả năng bên vay hay đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2012), “RRTD phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đủ được đầy đủ gốc là lãi khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc lãi không đúng kỳ hạn. Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ RRTD nào. Trong trường hợp người vay tiền phá sản thì việc thu hồi gốc lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó, ngân hàng có thể gặp RRTD”.
Từ các góc độ nhìn nhận khác nhau trong các khái niệm về rủi ro tín dụng có thể nhận thấy bản chất của rủi ro tín dụng là các tổn thất kinh tế suy giảm lợi nhuận cũng như uy tín của ngân hàng khi không thể thu hồi được nợ từ phía khách hàng 8 đúng thời hạn và các khoản nợ xấu bị gia tăng khi khách hàng không có ý muốn cũng như trách nhiệm trả cả gốc lẫn lãi. RRTD gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng, do đó tổn thất về tài chính từ không thu hồi được nợ gây ra có thể dẫn đến các hậu quả nặng nề như thua lỗ hoặc phá sản khi chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng bị giảm xuống. Vì vậy, các ngân hàng luôn tìm biện pháp hạn chế và đặt rủi ro tín dụng trong tầm quan tâm chú ý. Nguyên nhân tồn tại rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD, theo Ghosh (2012), rủi ro này có thể đến từ 3 nguyên do chính là nguyên nhân bên ngoài đến từ môi trường vĩ mô, nguyên nhân từ bên trong ngân hàng và nguyên nhân từ phía khách hàng.
o Khía cạnh từ môi trường vĩ mô Nguyên nhân khách quan từ nền kinh tế, thị trường nhiều biến động, không ổn định đã dẫn đến RRTD, hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không ngoại lệ, một nền kinh tế phát triển lành mạnh có tiềm năng sản xuất và tiêu dùng sẽ tạo điều kiện tốt để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp lẫn cá nhân tạo ra tài chính tốt. Ngược lại, khi nền kinh tế có lạm phát cao, đồng nội tệ sẽ mất giá dẫn đến sản xuất kinh doanh trong nước gặp khó khăn và nhiều vấn đề phức tạp trong việc thu hồi nợ. Ngoài ra, các ngân hàng cũng phải đối mặt với những hạn chế do việc đưa ra các chỉ thị giám sát, quản lý mới đột ngột, đôi khi chính phủ ban hành chỉ thị cho các ngân hàng để đạt được mục tiêu cho vay tối thiểu trong các lĩnh vực được lựa chọn của nền kinh tế như nhà ở dân dụng, nông nghiệp và công nghiệp quy mô nhỏ, hoặc các nhóm người được ưu tiên như người có thu nhập thấp hoặc trung bình. o Khía cạnh từ ngân hàng Đến từ việc các khâu làm việc không có sự phối hợp chặt chẽ và rõ ràng, quy trình chưa được tối ưu dẫn đến còn nhiều lỗ hỏng trong quy trình thẩm định tín dụng cũng như việc cấp tín dụng lỏng lẻo quá đơn giản để đạt được lợi nhuận khổng lồ là nguyên nhân dẫn đến khả năng nợ xấu ngày càng gia tăng.
Trình độ đạo đức kém và 9 chuyên môn của nhân viên, cán bộ cũng là rủi ro tiềm ẩn trong quy trình làm việc. Năng lực yếu kém của bộ máy lãnh đạo chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc theo dõi và kiểm soát thông tin từ phía khách hàng để có các đánh giá đúng về khoản vay và người đi vay. o Khía cạnh khách hàng Yếu tố khách quan: Do tác động từ bên ngoài như thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt, hỏa hoạn, sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sự thay đổi của khung pháp lý, sự thay đổi về quan hệ cung cầu hàng hóa, sự biến động thị trường kinh tế trên toàn quốc. Yếu tố chủ quan: Từ chính bản thân khách hàng trong vấn đề về đạo đức và trách nhiệm trả nợ, không có ý thức hoàn thành nghĩa vụ thanh toán nợ, sử dụng khoản vay sai mục đích.
Đồng thời, hoạt động kinh doanh mạo hiểm của doanh nghiệp, liên tục vay vốn và đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao sẽ có nhiều khả năng đầu tư thất bại và tạo ra các khoảng nợ khổng lồ không có khả năng chi trả. Tình trạng kinh doanh kém hiệu quả từ bộ máy công ty hay có nhiều sự thay đổi về nhân sự hoặc tham nhũng trong cơ quan đều dẫn đến dễ thua lỗ và lợi nhuận thấp không có khả năng trả nợ 2. Nhận dạng rủi ro tín dụng Theo Trần Khánh Dương (2019) có nhiều cách phân loại phổ biến về RRTD sau đây: Dựa trên mức độ tổn thất Rủi ro đọng vốn: rủi ro tồn tại khách hàng đến hạn thanh toán khoản vay nhưng vì các lý do cá nhân mà chưa có khả năng thanh toán cả gốc lẫn lãi theo thời hạn trên hợp đồng đã cam kết, dẫn đến vốn của ngân hàng bị kẹt lại và khó khăn trong việc giải quyết nợ cho khách hàng. Rủi ro mất vốn: khách hàng cố ý không thanh toán nợ hoặc mất khả năng trả nợ dẫn đến ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi, ngân hàng phải tiến hành thanh lý tài sản đảm của khách hàng.
Chi phí nợ và chi phí giám sát tăng do rủi ro mất vốn và các khoản dự phòng cho rủi ro nợ tăng khiến lợi nhuận giảm. Dựa trên nguyên nhân phát sinh của RRTD có thể chia làm 2 loại: 10 Rủi ro giao dịch rủi ro tồn tại từ nguyên nhân phát sinh từ các hạn chế trong khâu thẩm định và đánh giá các khoản vay, khách hàng để xét duyệt, giải ngân các khoản vay, trong đó bao gồm: Rủi ro lựa chọn xảy ra khi tiến hành đánh giá, đo lượng đưa ra các đánh giá, phân tích tín dụng và phương án vay vốn để tiến hành cấp tín dụng cho đối tượng vay; rủi ro bảo đảm xảy ra trong các tiêu chuẩn đảm bảo của ngân hàng như các loại tài sản đảm bảo của khách hàng, chủ thể đảm bảo, hạn mức cho vay; rủi ro nghiệp vụ xảy ra trong công tác điều hành quản lý các khoản vay, hoạt động cho vay như sử dụng hệ thống đánh giá khoản vay. Rủi ro theo danh mục là những hạn chế còn tồn đọng trong quản lý danh mục cấp tín dụng của ngân hàng, được chia thành các loại: rủi ro nội tại xuất phát từ những đặc điểm hoạt động từ các cá thể riêng biệt từng ngành kinh tế; rủi ro tập trung xảy ra khi ngân hàng cho vay tập trung vào một nhóm khách hàng, một ngành kinh tế hay một loại hình thức cho vay tiềm ẩn rủi ro cao hoặc có cùng một vùng địa lý nào đó. Dựa trên phạm vi của rủi ro tín dụng có thể chia làm RRTD cá biệt phát sinh trên một khoản vay cụ thể của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể.
Các nguyên nhân dẫn đến như: Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng; Tình hình tài chính của khách hàng; Khả năng quản trị của khách hàng; Đạo đức khách hàng; Các nguyên nhân khác. và RRTD hệ thống là rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro như sau: Sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu,… 2. Tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là sự việc xảy ra không mong muốn trong khi ngân hàng đang diễn ra hoạt động kinh doanh, nhận biết, tiến hành nghiên cứu và đo lường rủi ro tín dụng để có thể đưa ra các biện pháp xây dựng chính sách phòng ngừa rủi ro cho các loại hình vay.
Việc đo lường rủi ro tín dụng có thể dựa trên 2 tiêu chí là tiêu chí trực tiếp và tiêu chí gián tiếp (Trần Khánh Dương, 2019) Các tiêu chí trực tiếp bao gồm Nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn 11 Nợ quá hạn là khoản vay mà toàn bộ gốc lẫn lãi hoặc một phần nợ đã bị quá hạn so với thời gian cam kết trên hợp đồng, khi hoạt động kinh doanh của người vay không thuận lợi nợ quá hạn xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Các ngân hàng có lượng khách hàng thuộc nhóm nợ quá hạn cao càng tiềm ẩn nhiều rủi ro cao khi không thể thu hồi được vốn và bị phá vỡ kế hoạch hoạt động kinh doanh. Tỷ lệ nợ quá hạn thể hiện số dư nợ lãi và gốc đã quá hạn nhưng chưa thu hồi được.