CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo O'Sullivan, Arthur và Sheffrin, Steven M.
(2003) Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng (TCTD) với cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay tiền. Khi đó, bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản cho bên vay trong một khoảng thời gian theo thoả thuận được cam kết trong hợp đồng. Các cá nhân, doanh nghiệp vay cần cần thanh toán đủ gốc, lãi khi đến thời hạn. Về cơ bản, trong các ngân hàng thương mại hiện nay tín dụng được chia thành 02 mảng chính: ● Tín dụng cá nhân: Phục vụ các khách hàng cá nhân, nhu cầu phục vụ đời sống như: vay mua nhà, mua ô tô, du học, kinh doanh, phục vụ đời sống cá nhân … ● Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh như: cho vay bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản, thanh toán công nợ khác (trừ trường hợp vay trả nợ ngân hàng khác).
Các hình thức cấp tín dụng tại NHTM Các hình thức cấp tín dụng ngày càng đa dạng tạo cơ sở cho các tổ chức tín dụng lựa chọn các hình thức cấp tín dụng phù hợp đối với từng đối tượng khách hàng, từng nhu cầu vay vốn. Gồm các hình thức như: ● Cho vay: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. (Điều 4 Luật tổ chức tín dụng 2010) Phạm Bá Vũ 7 2023 Ngân hàng có khá nhiều hình thức cho vay để phục vụ nhu cầu sử dụng tiền của khách hàng như mua sắm nhà cửa, xe ô tô, đầu tư kinh doanh, du học… Mỗi gói vay sẽ có những chính sách quy định theo mỗi ngân hàng. Những gói vay này đều có áp dụng thời hạn vay.
Đồng thời lãi suất áp dụng sẽ được tính theo quy định của mỗi ngân hàng. Trong đó, mức lãi suất của mỗi ngân hàng là khác nhau. Khi tiến hành thủ tục vay, bạn sẽ chọn gói vay phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình, chọn luôn hình thức trả nợ cho ngân hàng định kỳ hay theo dư nợ giảm dần. Thủ tục để vay thường khá khắt khe, qua nhiều vòng kiểm duyệt, kiểm tra.
Mức vay ngân hàng chấp nhận từ 50 triệu lên đến hàng tỷ đồng. ● Chiết khấu, tái chiết khấu: - Chiết khấu ngân hàng là một trong những nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại, trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu những giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng thương mại để nhận lấy một khoản tiền bằng giá trị đến hạn trừ đi lợi tức chiết khấu và hoa hồng. Theo định nghĩa trong pháp lý chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán (Điều 4 Luật tổ chức tín dụng 2010). Glenn Hubbard và Anthony P.
O'Brien (2011) định nghĩa Tái chiết khấu (rediscount) là một quy trình trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là trong ngành ngân hàng, mà ngân hàng hoặc cơ quan tài chính mua lại một công cụ tài chính hoặc hợp đồng (như một kỳ hạn hoặc một ngày đáo hạn) trước khi nó đến hạn. Thông thường, tái chiết khấu được thực hiện để thu hồi giá trị hiện tại của một khoản tiền trong tương lai hoặc để chuyển đổi các tài sản như kỳ hạn hoặc chứng chỉ tiền gửi trước hạn thành tiền mặt ngay lập tức. Trong quá trình tái chiết khấu, ngân hàng hoặc cơ quan tài chính sẽ mua lại công cụ tài chính với mức giá thỏa thuận, thường dựa trên giá trị hiện tại của nó và mức lãi suất tương ứng. Khi tái chiết khấu xảy ra, người bán công cụ tài chính sẽ nhận được một khoản tiền trước đó thay vì phải chờ đến ngày đáo hạn ban đầu.
Phạm Bá Vũ 8 2023 Tại Việt Nam tái chiết khấu còn được hiểu là việc NHTM hoặc Ngân hàng Trung ương thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán và đáng tin cậy thuộc sở hữu của các ngân hàng khác theo tỉ suất tái chiết khấu nhất định. Các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàng chiết khấu, tái chiết khấu trên thị trường thứ cấp. ● Bao thanh toán: Theo J. Goodman (2003) Bao thanh toán là một nghiệp vụ tài chính, theo đó một doanh nghiệp bán các khoản phải thu của nó (ví dụ, các hóa đơn) cho một bên thứ ba (gọi là người bao thanh toán) với một chiết khấu.
Trong bao thanh toán "ứng trước", người bao thanh toán cung cấp tài chính cho người bán các khoản phải thu trong hình thức của một tiền mặt "ứng trước," thường 70-85% so với giá mua của các khoản, với số dư của giá mua đã được trả tiền, ròng phí chiết khấu của người bao thanh toán (hoa hồng) và các tính phí khác, khi thu thập từ khách hàng của tài khoản. Trong bao thanh toán "trưởng thành", người bao thanh toán không ứng trước trên các tài khoản đã mua; đúng hơn, giá mua được thanh toán vào hoặc vào khoảng thời gian đáo hạn trung bình của các tài khoản được mua trong cả loạt. ● Cung cấp dịch vụ bảo lãnh: Theo cuốn sách “Bank Guarantees in International Trade” của tác giả Roeland F. Bertrams (2012) Bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp để đảm bảo hoặc cam kết trên tài sản hoặc nghĩa vụ của một bên thứ ba đối với một người được hưởng lợi từ giao dịch tài chính hoặc hợp đồng.
Trong trường hợp một bên không thực hiện hoặc không thực hiện đúng các nghĩa vụ tài chính, ngân hàng bảo lãnh sẽ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc chi trả các khoản tiền bồi thường theo thỏa thuận đã được cam kết. Bảo lãnh ngân hàng có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực và giao dịch khác nhau, bao gồm bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền vay, bảo lãnh thực hiện công việc, và nhiều hình thức khác. Điều này giúp tăng cường sự tin tưởng và đảm bảo cho các bên tham gia giao dịch tài chính, giảm thiểu rủi ro và bảo vệ lợi ích của các bên liên quan. ● Cho thuê tài chính: Phạm Bá Vũ 9 2023 K V Kamath và cộng sự (1990) cho rằng Một hợp đồng cho thuê tài chính (còn được gọi là hợp đồng cho thuê vốn hoặc hợp đồng cho thuê bán hàng) là một loại hợp đồng cho thuê trong đó một công ty tài chính thường là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản trong suốt thời gian thuê, người thuê sẽ có quyền kiểm soát vận hành tài sản đồng thời sẽ được hưởng lợi ích kinh tế hoặc chịu rủi ro từ sự thay đổi giá trị sử dụng của tài sản đó.
Về mặt pháp lý tại Việt Nam, theo khoản 7 Điều 3 Nghị định 39/2014/NĐ-CP, cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính với bên thuê tài chính. Trong đó: - Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê. Cụ thể, tài sản cho thuê tài chính là máy móc, thiết bị hoặc tài sản khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và được hướng dẫn cụ thể các loại tài sản cho thuê trong từng thời kỳ. - Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính.
Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Theo Uỷ ban Basel (2006) thì: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Rủi ro thất thoát đối với một NH là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi”. RRTD sẽ xảy ra bất cứ lúc nào trong hoạt động cho vay và nó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng được định nghĩa là rủi ro người đi vay không trả được nợ gốc và lãi đúng hạn. Theo Kolapo và cộng sự (2012) “rủi ro tín dụng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động tài chính của các ngân hàng vì một phần lớn doanh thu của các ngân hàng tích lũy từ các khoản cho vay mà từ đó lãi Phạm Bá Vũ 10 2023 suất được tạo ra”. Rủi ro này bao gồm mức độ nợ xấu, nợ có vấn đề hoặc dự phòng rủi ro cho vay (Jimenez và Saurina, 2006).Koch (2006) thì cho rằng RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Theo Castro (2013), rủi ro tín dụng được định nghĩa là rủi ro của một khoản vay mà không được hoàn trả (một phần hay toàn bộ) cho người cho vay.
Theo NHNN Việt Nam (2005) RRTD trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 11), có hiệu lực từ 01/10/2021 cho rằng: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” RRTD có thể được hiểu là khi ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng sẽ có xác suất khách hàng không thực hiện theo hợp đồng tín dụng và gây tổn thất cho ngân hàng.