Chương 1 nghiên cứu đưa ra lý do chọn đề tài cũng như mục tiêu và câu hỏi làm cơ sở nghiên cứu, trên cơ sở đó đưa ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Tiếp đó nêu nên đóng góp của đề tài đối vào công tác quản trị rủi ro đối với các chi nhánh NHCT nói chung và Vietinbank CN TP.HCM nói riêng và cuối cùng là bố cục của luận văn trong đó giới thiệu những nội dung chính của đề tài. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Cơ sở lý thuyết về Ngân hàng Thương mại 2.
Cơ sở lý thuyết về Ngân hàng Thương mại a. Khái niệm Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch (1930) ngân hàng là “Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiên các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm,…” Theo Forbes India (2024)“ Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động liên quan đến gửi và rút tiền cho công chúng, cho vay đầu tư và thực hiện các hoạt động tương tự khác. Hai chức năng chính của ngân hàng thương mại là cho vay và đi vay. Họ đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính của đất nước bằng cách điều hòa dòng vốn, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế” Theo khoản 23 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng Số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Mặc dù có hình thức biểu đạt khác nhau, nhưng người ta có thể nhận thấy các NHTM đều có một đặc điểm chung là: Nhận tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn để sử dụng chúng vào các nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của Ngân hàng. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Thương mại Theo giáo trình Ngân hàng Thương Mại (Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự, 2020), nghiệp vụ cơ bản của NHTM hoạt động dựa trên ba hoạt động chính đó là: Nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ trung gian. Cụ thể: + Nghiệp vụ nguồn vốn là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của NHTM. Vốn của NHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay và vốn khác.
+ Nghiệp vụ sử dụng vốn là nghiệp vụ phân phối nguồn vốn của Ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt cho các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời góp phần mang 7 lại thu nhập cho NHTM. Vốn của NHTM được phân phối qua các nghiệp vụ sau: Mua sắm tài sản cố định, thiết lập dự trữ, cấp tín dụng, hoạt động đầu tư. + Nghiệp vụ trung gian: Ngoài nghiệp vụ nguồn vốn và nghiệp vụ sử dụng vốn, NHTM còn cung ứng cho khách hàng một số dịch vụ, mà trong đó NHTM giữ vai trò làm một đơn vị trung gian làm thay cho khách hàng để được hưởng hoa hồng và phí dịch vụ, chẳng hạn: dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thanh toán, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ giữ hộ tài sản,. c Khái quát về hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng Thương mại Trong các nghiệp vụ của NHTM thì hoạt động tín dụng là hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu trong hoạt động của NHTM.
Theo báo cáo tài chính của Ngân hàng (2024) thì “trong giai đoạn 2014 - 2019, thu nhập lãi chiếm bình quân 78%, trong khi tỷ lệ thu từ phí dịch vụ chỉ dao động trong khoảng 12% đến 14% tổng thu nhập hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. Tuy nhiên, hoạt động này cũng tạo ra nhiều rủi ro, trong đó, rủi ro tín dụng tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh và sự ổn định của ngân hàng (Vũ Thị Ánh Tuyết, 2023). Trong Hiệp ước thương mại dịch vụ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì hoạt động cấp tín dụng của NHTM được coi là dịch vụ tài chính, bao gồm hoạt động cho vay dưới tất cả các hình thức, tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại Theo khoản 4, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng Số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Cấp tín dụng được thực hiện bởi nhiều TCTD khác nhau, trong đó Ngân hàng thương mại là chủ thể cơ bản, quan trọng nhất, thực hiện cấp tín dụng đa dạng và chuyên nghiệp nhất (Nguyễn Ngọc Lương, 2017).
Theo đó, hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại là việc thỏa thuận để người đi vay sử dụng một khoản tiền được hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác 8 d. Khái quát về hoạt động cho vay Hoạt động cho vay là mảng kinh doanh chính của ngân hàng và theo đó tăng trưởng cho vay ngân hàng là cơ sở để các ngân hàng vận hành và phát triển (Đặng Văn Dân, 2023). Đối với hoạt động cho vay, có nhiều cách để phân loại cho vay và NHTM thường phân loại dựa trên các chí sau: + Căn cứ dựa trên thời hạn cho vay: Căn cứ vào thời hạn cho vay, NHTM sẽ chia thành ba hình thức như sau: ▪ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn đến 12 tháng ▪ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng ▪ Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn trên 60 tháng + Căn cứ dựa trên tính chất luân chuyển vốn vay: ▪ Cho vay tài sản cố định: Là hình thức cho vay mà mục đích vay là để đầu tư mua sắm, mở rộng, duy tu tài sản cố định. Tài sản cố định là loại tài sản tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, quyền sử dụng đất (QSDD), phần mềm,….), giá trị của tài sản sẽ giảm dần và được tính khấu hao theo từng năm, thêm vào đó giá trị của tài sản cố định sẽ được tính dần vào trị của sản phẩm.
Hình thức cho vay này thường được gọi là cho vay dự án án đầu tư. ▪ Cho vay vốn lưu động: Là hình thức cho vay với mục đích mua sắm các tài sản lưu động. Tài sản lưu động là loại tài sản chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh (nguyên vật liệu, hàng hóa,…), giá trị của tài sản lưu động được tính một lần vào giá trị sản phẩm. + Căn cứ dựa trên mục đích sử dụng vốn: ▪ Cho vay sản xuất kinh doanh: là hình thức cho vay mà khoản tiền vay sẽ tham gia vào chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Chu kỳ sản xuất kinh doanh là quá trình mà người vay và ngân hàng bỏ vốn để đầu tư mua sắm các yếu tố sản xuất, sau đó thực hiện sản xuất để tạo ra thành phẩm và tiêu thụ. Sau đó tiếp tục chu kỳ tái sản xuất. Đối với cho vay sản xuất kinh doanh, tuy nhu cầu khách hàng mà có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. ▪ Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cho vay mà mục đích vay là để tiêu dùng.
Khác với hình thức cho vay SXKD, cho vay tiêu dùng không tạo ra sản phẩm, hàng hóa mà chỉ dùng để tiêu dùng. Do đó nguồn thu nợ đối với tiêu dùng phải độc lập với dự án, 9 người vay phải có thu nhập từ các nguồn khác như tiền lương, thu nhập từ cho thuê nhà,. + Căn cứ dựa trên phương thức hoàn trả: ▪ Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà quá trình trả nợ diễn ra đều đặn. Chu kỳ trả nợ bằng nhau, số tiền trả nợ gốc các kỳ bằng nhau ▪ Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay mà NHTM sẽ mở cho khách hàng một tài khoản và cho phép khách hàng chi tiêu vượt quá số tiền thực có trong tài khoản tối đa bằng hạn mức mà Khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong một khoảng thời gian nhất định.
Hạn mức thấu chi sẽ phụ thuộc vào uy tín và khả năng thanh toán của khách hàng. ▪ Cho vay từng lần: Đây là hình thức cho vay phổ biến và áp dụng cho những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên hoặc thời gian vay quá dài. Mỗi lần cho vay, NHTM và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. Phương thức này thường được áp dụng khi cho vay trung hoặc dài hạn và cho các dự án vay độc lập ▪ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương thức cho vay mà NHTM và khách hàng thỏa thuận với nhau về một hạn mức tín dụng tối đa mà khách hàng vay có thể được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong phạm vi của hạn mức tín dụng, khách hàng có thể được giải ngân và trả nợ nhiều lần, tuy nhiên tổng số tiền giải ngân không được vượt quá hạn mức tối đa mà hai bên đã thỏa thuận. Mỗi lần giải ngân, khách hàng chỉ cần lập giấy nhận nợ và đưa chứng từ chứng minh mục đích vay vốn. Hồ sơ vay theo hạn mức tín dụng được thẩm định và lập một lần trong suốt thời gian duy trì hạn mức tín dụng. Thời gian duy trì hạn mức tín dụng tại các NHTM thông thường là một năm.
Hết thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, NHTM sẽ thực hiện đánh giá lại về quá trình vay vốn, tình hình sản xuất kinh doanh và các yếu tố khác để thực hiện đánh giá và xem xét tái cấp lại hạn mức tín dụng cho khách hàng. Đây là hình thức vay vốn mà được các khách hàng doanh nghiệp thường xuyên sử dụng và thường áp dụng đối với các khách hàng có nhu cầu vay vốn ngắn hạn và thường xuyên. ▪ Các hình thức cho vay khác: Còn nhiều các phương án cho vay khác như cho vay hợp vốn, cho vay lưu vụ, cho vay đồng tài trợ, cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, cho vay tuần hoàn,….