Phần mở đầu Chương 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 12 CHƯƠNG2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu 2. Tổng quan tình hình tín dụng tại các ngân hàng thương mại hiện nay 2. Tình hình tăng trưởng huy động Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh doanh và giữ vị trí chủ đạo, ngân hàng phải không ngừng tăng quy mô hoạt động, đặc biệt là quy mô huy động vốn, đáp ứng tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế.
Tháng 12/2022, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động hơn 6%. Từ tháng 3/2023, các ngân hàng thương mại đồng ý giảm lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng từ 0,2% đến 0,5%/năm so với mức lãi suất niêm yết của từng ngân hàng từ tháng 2/2023. Mục đích của việc hạ lãi suất huy động là giúp các ngân hàng thương mại giảm chỉ phí và đo đó hạ lãi suất cho vay, hỗ trợ các doanh nghiệp và nền kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực ưu tiên. Đến cuối tháng 2/2023, mặt bằng lãi suất trên thị trường ổn định và có xu hướng giảm.
Lãi suất cho vay mới bình quân giảm khoảng 0,43% /năm (so với cuối năm 2022); 22 ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay bình quân Trong 2 tháng đầu năm 2023, kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát. Thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng được đảm bảo và dồi dào. Hệ thống ngân hàng tiếp tục huy động nguồn vốn ổn định, đáp ứng đầy đủ và nhanh chóng nhu cầu tăng trưởng tín dụng ngày càng cao của nền kinh tế. Hiện huy động vốn tăng xấp xỉ 4,6% so với đầu năm, tức chỉ bằng 1/3 tốc độ tăng cho vay.
Điều này đặt ra thách thức về hiệu suất sử dụng vốn rất cao của hệ thống ngân hàng, cũng như lo ngại về tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, bởi chỉ huy động được tiền mới có thể cho nền kinh tế vay 2. Tình hình tăng trưởng tín dụng Theo số liệu thống kê, tăng trưởng tín dụng từ đầu năm đến nay đạt trên 2% so với cuối năm 2022, chưa bằng một nửa so với tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm trước là 5,04%. Theo thống kê, tăng trưởng cho vay từ đầu năm vượt 2% so với cuối năm 2022, tức là chưa bằng một nửa mức tăng trưởng 5,04% cùng kỳ năm ngoái. Tăng trưởng tín dụng thấp là tín hiệu cảnh báo khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế khá chậm, do đó cần đẩy nhanh các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn.
Với lãi suất hàng năm hơn 10% một năm, người ta ước tính rằng các công ty gần như không thể có lãi trong những 13 thời điểm khó khăn này. Nhiều công ty vay vốn ngân hàng để tiếp tục hoạt động nhưng nay tìm cách bán tài sản để trả sớm một phần khoản vay nên giảm gánh nặng lãi vay. Hiện nay, các ngân hàng ngày càng đòi hỏi cao về minh bạch tài chính và vốn tương hỗ, trong khi hơn 65% doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp siêu nhỏ, bảo lãnh và kế hoạch kinh doanh rất hạn chế. Hầu hết các trường hợp khó vay vốn vẫn là ở các công ty mới thành lập.
Các ngân hàng không có dữ liệu lịch sử, họ không thể đánh giá tín dụng khi đánh giá các khoản vay hoặc họ không đáp ứng các yêu cầu bổ sung. Do đó, các ngân hàng buộc phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ định giá tài sản thế chấp sang quản lý dòng tiền để hỗ trợ doanh nghiệp. Tăng trưởng tín dụng chậm phản ánh mức độ hấp thụ vốn trong nền kinh tế. Vì vậy, các giải pháp trả nợ vay phải được thực hiện ngay từ bây giờ.
Bên cạnh giải pháp tài chính, phải thực hiện song song các giải pháp căn cơ hơn như thị trường, sản xuất sản phẩm. Nhận thức về cạnh tranh trên thị trường cho vay Các ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh từ các tổ chức tín dụng khác, cả trong và ngoài nước. Để có thể tăng thị phần tín dụng và mở rộng cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, các ngân hàng cần phải cạnh tranh nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo rằng họ không sử dụng mọi thủ đoạn để đạt được mục tiêu cạnh tranh của mình. Kinh doanh tiền tệ là một lĩnh vực rất nhạy cảm, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nó, bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống, văn hóa.
Bất kỳ thay đổi nào trong các yếu tố này đều có thể gây ra tác động nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung. Chẳng hạn, một tin đồn thổi dù là không đúng sự thật cũng có thể gây ra cơn chấn động lớn về tâm lý và đe dọa sự tồn vong của hệ thống các tổ chức tín dụng. Ngoài ra, nếu một ngân hàng hoạt động kém thanh khoản, nó có thể trở thành gánh nặng cho các ngân hàng khác và dân chúng trên địa bàn. Vì vậy, trong việc cạnh tranh, các ngân hàng cần phải đảm bảo rằng hoạt động của họ không gây ra bất kỳ tác động tiêu cực nào đến ngân hàng khác hoặc đến hệ thống tài chính nói chung.
Nếu một ngân hàng cạnh tranh bằng mọi giá và sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, điều này có thể dẫn đến những hậu quả rất lớn, thậm chí đến sụp đổ của chính ngân hàng đó do tác động dây chuyền. Vì vậy, để duy trì và phát triển thị phần, các ngân hàng cần phải cạnh tranh một cách chính đáng và hợp pháp, đồng thời đảm bảo tính thanh khoản và ổn định tài chính để tránh gánh nặng cho các ngân hàng 14 khác và dân chúng trên địa bàn. Vì vậy trong kinh doanh việc cạnh tranh là để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì đối thủ là các ngân hàng thương mại khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả mang lại thường là rất lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính ngân hàng mình do tác động dây chuyền. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội mà còn liên quan đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huy động tiền gửi, cho vay và các dịch vụ tài chính khác.
Đồng thời, các ngân hàng cũng phải liên kết với nhau để phục vụ khách hàng chung. Nếu một ngân hàng gặp khó khăn trong thanh khoản và đổ vỡ, điều này có thể gây ra tác động dây chuyền đến gần như tất cả các ngân hàng thương mại khác. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế trong và ngoài nước, đòi hỏi các ngân hàng phải tuân thủ nhiều quy định và thông lệ trong môi trường kinh doanh cả trong và ngoài nước. Các yếu tố quan trọng như môi trường pháp luật, tập quán kinh doanh và các chuẩn mực quốc tế cũng ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng.
Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong cùng lĩnh vực cần dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ thông tin để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và hoạt động kinh doanh tối thiểu. Thực trạng rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mai tại Việt Nam 2. Tỷ lệ nợ xấu Thông tin được công bố bởi Ngân hàng Nhà nước cho thấy tỷ lệ nợ xấu nội bảng đang ở mức thấp dưới 2% vào cuối năm 2022.
Tuy nhiên, nhiều ngân hàng vừa công bố kết quả kinh doanh cho thấy nợ xấu đang có xu hướng tăng trong hệ thống. Để đối phó với kịch bản này, các ngân hàng đang đẩy mạnh việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cho các khoản nợ xấu tiềm ẩn. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là hoạt động của các ngân hàng để giảm thiểu rủi ro của các khoản nợ xấu trong tài sản của họ. Việc trích lập dự phòng này sẽ giúp các ngân hàng có dư địa tài chính để đối phó với các rủi ro tiềm ẩn, như tăng nợ xấu từ tín dụng bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp hay biên lãi thuần bị ảnh hưởng.
Các ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt, lợi nhuận cao thường có nhiều dư địa để trích lập dự phòng và giữ tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức cao. Các ngân hàng điển hình 15 như Vietcombank, BIDV, VietinBank đều được cho là có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao, điều này sẽ giúp họ chống chọi tốt hơn trong điều kiện thị trường bất lợi. Theo Chính phủ, các ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao sẽ có khả năng chống chọi tốt hơn trong điều kiện thị trường bất lợi, vì vậy việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là hoạt động cần thiết để bảo vệ ngân hàng trước các rủi ro tiềm ẩn.1 Thống kê tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu Thay đổi STT Ngân hàng l 31/12/2022 | 31/12/2021 | (điểm %) 1 NCB 17,93% 3,00% 14,93% 2 VPBank 5,73% 4,57% 1,16% 3 Vietbank 3,65% 3,65% 0,00% 4 ABBank 2,88% 2,34% 0,54% 5 Ngân Hàng Bản Việt 2,79% 2,53% 0,25% 6 PG Bank 2,56% 2,52% 0,04% 7 SHB 2,53% 1,69% 0,84% 8 VIB 2,45% 2,32% 0,13% 9 OCB 2,23% 1,32% 0,91% 10 Saigonbank 2,12% 1,97% 0,15% 11 Kienlongbank 1,89% 1,89% 0,00% 12 Eximbank 1,80% 1,96% -0,16% 13 MSB 1,70% 1,74% -0,04% 14 HDBank 1,67% 1,65% 0,02% 15 SeABank 1,60% 1,65% -0,05% 16 VietABank 1,53% 1,89% -0,36% 17 LienVietPostBank 1,49% 1,39% 0,09% 18 NamABank 1,35% 1,57% -0,22% 19 VietinBank 1,24% 1,26% -0,03% 20 BIDV 1,16% 1,00% 0,16% 21 MB 1,09% 0,90% 0,19% 22 Sacombank 0,98% 1,47% -0,49% 23 TPBank 0,84% 0,82% 0,02% 24 ACB 0,74% 0,77% -0.04% 25 Vietcombank 0,68% 0,64% 0,04% 16 26 Techcombank 0,66% 0,90% -0,24% 27 Bac A Bank 0,53% 0,77% -0,24% Trung bình 1,60% 1,37% 0,23% (Nguồn: Theo báo https://vietnambiz.vn/ ) Ngoài những ngân hàng đang gặp phải tình trạng tăng nợ xấu thì cũng có một số ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính và cho thấy tỷ lệ nợ xấu nội bảng của họ vẫn giữ được ở mức thấp.