Chương 1 cũng trình bày các đóng góp của đề tài nghiên cứu và kết cấu chính của luận văn này. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Quản lý ngân hàng, từ góc độ lý thuyết tài chính, thường được thừa nhận là liên quan đến việc quản lý bốn rủi ro chính trong bảng cân đối kế toán: rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro vốn và RRTD (Hempel et al, 1989). Trong số này, RRTD thường được xác định là rủi ro chính xét về ảnh hưởng của nó đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Sinkey, 1992) và phá sản ngân hàng (Spadaford, 1988). Mặc dù RRTD có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng trong nghiên cứu này, có thể định nghĩa nó là rủi ro mất mát tài chính (phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp từ việc Bên đi vay mất khả năng thanh toán hoặc không trả được nợ đúng hạn theo thỏa thuận Điều này có nghĩa là có RRTD nếu ngân hàng không thể thu được toàn bộ số tiền gốc, toàn bộ tiền lãi hoặc cả hai, hoặc nếu người vay không thanh toán khoản vay đúng hạn.
RRTD đề cập đến khả năng khách hàng vay không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã thỏa thuận, bao gồm việc không thanh toán khoản lãi và không hoàn trả khoản vay gốc đúng thời hạn như đã quy định trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và bên vay. Do đó, có các vấn đề về dòng tiền và khả năng thanh khoản của ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến và Phạm Hữu Hồng Thái, 2014) RRTD là khả năng người đi vay không thể trả lãi hoặc hoàn trả nguyên tắc trước hạn theo hợp đồng cho vay. Điều này làm cho tính thanh khoản của ngân hàng bị ảnh hưởng và tạo ra các vấn đề về dòng tiền (Nguyễn Văn Tiến, 2010). Koch (1988), RRTD phát sinh khi khách hàng không thực hiện được, tức là khi khách hàng không trả lãi và gốc.
RRTD là khả năng khách hàng không trả được nợ hoặc vỡ nợ có thể gây ra sự thay đổi trong thu nhập ròng và vốn hóa thị trường. 11 RRTD được Saunders và Lange (1999) định nghĩa là tổn thất có thể xảy ra khi ngân hàng mở rộng tín dụng cho khách hàng, hoặc khả năng xảy ra các dòng thu nhập được dự đoán không thể hoàn trả cả về số lượng và thời gian. Theo đề án tái cơ cấu tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 254/QĐ-TTG ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực, RRTD của các NHTM Việt Nam đã trở thành vấn đề đặc biệt được quan tâm trong xã hội. Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2007), việc người đi vay không thanh toán khoản vay kịp thời là RRTD.
Tổn thất dự kiến đo lường RRTD và tạo nền tảng cho việc trích lập dự phòng (Basel của Ủy ban Giám sát Ngân hàng 2004). Theo Laeven Majnoni (2002), RRTD là tỷ lệ dự phòng rủi ro cho một khoản vay chia cho tổng tài sản của ngân hàng. Hiện tại không có sự thống nhất giữa các học giả về cách tính toán RRTD. Ông cho rằng phần lớn tổng tài sản bao gồm số dư cho vay, do đó rủi ro có thể được xác định trực tiếp từ tổng giá trị tài sản.
Ông cho rằng, thay vì chỉ số tiền vay, toàn bộ tài sản của ngân hàng phải chịu tổn thất khi RRTD phát sinh. Trong một nghiên cứu khác của Jemenez và Saurian (2006), nhà nghiên cứu phải thu thập đủ dữ liệu để sử dụng phương pháp chia tỷ lệ nợ xấu cho toàn bộ dư nợ để xác định RRTD. Các kết quả nghiên cứu đáng tin cậy đã được thực hiện kiểm định nợ xấu của các ngân hàng mới nổi. Hai phương pháp đề cập ở trên đã được tích hợp trong nghiên cứu của Hess và cộng sự (2008) để xác định RRTD.
Những người đi vay thông thường không gặp RRTD trong năm đầu tiên đi vay, nhưng các khoản dự phòng được trích lập cho các khoản vay rủi ro từ những năm trước đó. Do đó, việc so sánh các khoản dự phòng với dư nợ cùng năm để đánh giá rủi ro là không phù hợp. Vì vậy trong bài nghiên cứu này RRTD được xác định bằng cách chia số dư tín dụng từ năm t-1 cho số khoản dự phòng trong năm t. Phương pháp này tính đến việc trích lập dự phòng cho các rủi ro tiềm ẩn trong từng khoản cho vay cụ thể, giúp phản ánh RRTD một cách chính xác hơn.
Đây cũng là một cách tiếp cận phù hợp để đánh giá RRTD dựa trên các dữ liệu sẵn có tại các ngân hàng. 12 Chính sách của NHNN Việt Nam phân loại dư nợ thành 5 nhóm. Mặc dù các khoản vay từ nhóm 2 đến nhóm 5 phải được trích lập, nhưng định nghĩa nợ xấu của NHNN Việt Nam (2013) đã phân loại các khoản nợ này thuộc nhóm 3, 4 và 5. Phòng ngừa.
Do đó, đối với vấn đề này, tác giả lựa chọn phương pháp đo lường RRTD được khuyến nghị bởi Daniel Foos và cộng sự (2010).2 Phân loại rủi ro tín dụng RRTD được chia thành hai loại dựa trên bản chất của nó: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục đầu tư (Steinwand, 2000): Một loại RRTD được gọi là rủi ro giao dịch chủ yếu do các hạn chế trong quá trình giao dịch và thẩm định của khách hàng để phê duyệt khoản vay. Ba thành phần cơ bản của rủi ro giao dịch như sau: Rủi ro lựa chọn liên quan đến việc phân tích và đánh giá các khoản vay mà khách hàng đề ra. Các yêu cầu và quy định của ngân hàng liên quan đến chủ thể bảo đảm, phương thức bảo đảm, giá trị tài sản thế chấp và bảo đảm theo giá trị khoản vay đối với khoản vay đều góp phần vào rủi ro bảo đảm. Rủi ro hoạt động là một dạng rủi ro bao hàm các rủi ro gắn liền với các quy trình quản lý khoản vay, các hoạt động sau khi giải ngân, việc áp dụng hệ thống xếp hạng RRTD cũng như những biện pháp xử lý các khoản vay gặp khó khăn.
Rủi ro danh mục là một loại RRTD do ngân hàng không có khả năng quản lý danh mục cho vay của mình. Hai loại rủi ro danh mục đầu tư như sau: Rủi ro nội sinh bắt nguồn từ những đặc thù của bản thân các khách hàng vay vốn. Các yếu tố này bao gồm nguồn thu nhập cũng như cách thức sử dụng khoản vay của các đối tượng này. Rủi ro tập trung phát sinh khi một ngân hàng phân bổ quá nhiều vốn cho vay cho một nhóm khách hàng được chọn hoặc một nhóm khách hàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh tương tự.
Nó cũng có thể xảy ra khi một ngân hàng cấp tín dụng quá mức cho một số khách hàng làm việc cùng nhau hoặc trong các lĩnh vực 13 rủi ro cao như chứng khoán hoặc bất động sản.2 Các lý thuyết về rủi ro tín dụng 2.1 Lý thuyết về gia tốc tài chính (financial accelerator) Gia tốc tài chính là một cơ chế làm trầm trọng thêm tác động của các cú sốc kinh tế vĩ mô và tài chính đến hoạt động của nền kinh tế thông qua sự thay đổi điều kiện tín dụng. Lý thuyết này do Bernanke và cộng sự (1994) phát triển. Trong mô hình gia tốc tài chính, điều kiện tài chính của người đi vay (doanh nghiệp, cá nhân) tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng và chi phí vay vốn của họ. Khi nền kinh tế gặp cú sốc tiêu cực (suy thoái, khủng hoảng tài chính), tình hình tài chính của người đi vay xấu đi do giảm doanh thu, lợi nhuận, tài sản thế chấp mất giá.
Điều này khiến ngân hàng thắt chặt điều kiện cho vay, nâng lãi suất, giảm cung tín dụng vì lo ngại rủi ro tín dụng gia tăng. Sự sụt giảm tín dụng lại càng làm trầm trọng thêm suy thoái. Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng tốt, cơ chế gia tốc tài chính này sẽ thúc đẩy tín dụng và đầu tư phát triển (Bernanke và cộng sự, 1994). Các nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn suy thoái và khủng hoảng, hiệu ứng gia tốc tài chính làm gia tăng đáng kể rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Dell’Ariccia và Marquez (2006) chỉ ra rằng các ngân hàng có xu hướng nới lỏng tiêu chuẩn tín dụng trong thời kỳ bùng nổ kinh tế để tăng thị phần, nhưng điều này dẫn đến sự tích lũy rủi ro, khoản vay xấu sẽ gia tăng khi suy thoái xảy ra. Marcucci và Quagliariello (2008), qua nghiên cứu chu kỳ kinh doanh và rủi ro tín dụng ngân hàng tại Italy, kết luận rằng trong suy thoái, xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp tăng cao khiến tỷ lệ nợ xấu tăng vọt. Nguy cơ vỡ nợ của ngân hàng cũng tăng. Tương tự, Abildgren (2009) phân tích rủi ro tín dụng ngân hàng Đan Mạch qua các chu kỳ kinh tế, cho thấy hiệu ứng gia tốc tài chính làm tăng nợ xấu và rủi ro vỡ nợ của ngân hàng trong giai đoạn kinh tế đi xuống.
Như vậy, cơ chế gia tốc tài chính cho thấy rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố vĩ mô và chu kỳ kinh tế. Các cú sốc tiêu cực có thể bị khuếch đại tác động qua cơ chế này, gây rủi ro đáng kể cho hệ thống ngân 14 hàng. Do đó ngân hàng cần quản trị rủi ro tín dụng chặt chẽ, đặc biệt trong những giai đoạn kinh tế bất ổn.2 Lý thuyết kênh cho vay Lý thuyết kênh cho vay (lending channel) là một cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế thực thông qua sự thay đổi trong nguồn cung và điều kiện tín dụng của ngân hàng (Bernanke và Gertler, 1995). Theo lý thuyết này, chính sách tiền tệ thắt chặt (tăng lãi suất, giảm cung tiền) sẽ làm giảm tiền gửi và nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Điều này khiến ngân hàng phải thu hẹp tín dụng, nâng lãi suất cho vay, thắt chặt điều kiện vay vốn. Sự sụt giảm trong nguồn cung tín dụng sẽ làm giảm đầu tư và chi tiêu của doanh nghiệp, hộ gia đình, qua đó tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ kích thích TTTD và nền kinh tế (Bernanke, 1990). Mối liên hệ giữa kênh tín dụng và rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại được thể hiện như sau: + Altunbas và cộng sự (2010) cho thấy trong giai đoạn nới lỏng tiền tệ kéo dài, các ngân hàng có xu hướng mở rộng tín dụng quá mức và nới lỏng điều kiện cho vay, dẫn đến gia tăng rủi ro.