chương 1 và phân tích thực trạng ở chương 2, trong chương 3 tác giả sẽ đề xuất các giải pháp có khả thi để hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV và đưa ra một số khuyến nghị với NHNN. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Ciby Joseph (2013) “RRTD là khả năng xảy ra tổn thất (do không thu hồi được) phát sinh từ khoản tín dụng đã gia hạn do người đi vay không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thể hiện qua khía cạnh không sẵn lòng hay không có khả năng thực hiện hoặc một số lý do khác”.
Theo Raghavan (2003) cho rằng “RRTD là khả năng người đi vay không đáp ứng được đầy đủ các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận. Luôn có khả năng người đi vay không thực hiện được cam kết của mình vì nhiều lý do khác nhau dẫn đến hình thành RRTD cho ngân hàng”. Theo quy định tại khoản 1, điều 3, thông tư số 11/2021/TT-NHNN1 đã diễn giải ý nghĩa như sau “RRTD trong hoạt động của ngân hàng là khả năng xảy ra mất mát đối với các khoản nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng do khách hàng không đủ khả năng để hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số nợ của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng với TCTD, chi nhánh ngân hàng”. Trong bộ nguyên tắc QTRRTD về việc thanh tra, giám sát ngân hàng của Ủy ban Basel (2000) đã định nghĩa một cách ngắn gọn nhất về RRTD là “khả năng bên vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ như đã cam kết trong thỏa thuận”.
Tóm lại, RRTD là khả năng xảy ra tổn thất mà ngân hàng hay các TCTD khác phải gánh chịu do khách hàng không tuân thủ theo các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, dẫn chứng qua việc hoàn trả nợ không đúng hạn, không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi hoặc không có khả năng trả nợ. 1 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập DPRR và phân bổ dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh tại nước ngoài. Phân loại rủi ro tín dụng Sơ đồ 1. Phân loại rủi ro tín dụng RỦI RO TÍN DỤNG Nguyên nhân phát sinh Tính chất Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro đọng vốn Rủi ro lựa chọn Rủi ro tập trung Rủi ro mất vốn Rủi ro bảo đảm Rủi ro nội tại Rủi ro nghiệp vụ Nguồn: (Lưu Hà Chi, 2024) • Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro - Rủi ro giao dịch: là rủi ro phát sinh từ trong quá trình thực hiện giao dịch và đánh giá khoản vay cho khách hàng.
Trong đó, bao gồm 3 loại chính: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro trong việc đánh giá và phân tích khoản vay cho khách hàng bị hạn chế dẫn đến những dự án vay vốn tiềm năng lại bị ngân hàng bỏ qua. + Rủi ro bảo đảm: là các điều khoản trên hợp đồng tín dụng dùng để đảm bảo quyền lợi tới bên cho vay như hình thức đảm bảo, loại TSĐB, chủ thể bảo lãnh khoản vay và hạn mức cho vay. + Rủi ro nghiệp vụ: phát sinh từ lỗi hệ thống xếp hạng rủi ro và xử lý nợ, gây ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của hoạt động cho vay công tác xử lý khoản vay. - Rủi ro danh mục: là rủi ro trong việc quản lý danh mục của ngân hàng bị hạn chế, trong đó bao gồm rủi ro tập trung và rủi ro nội tại.
+ Rủi ro tập trung: xuất phát từ việc ngân hàng tập trung vốn quá nhiều cho một số khách hàng ở cùng lĩnh vực kinh doanh, cùng hình thức cấp tín dụng với mức độ rủi ro tương đương nhau hoặc cùng địa bàn hoạt động. + Rủi ro nội tại: là rủi ro ở bên trong, tạo nên điểm nhấn riêng biệt của mỗi 12 khách hàng vay vốn hoặc do lĩnh vực kinh doanh của họ. Ngoài ra, rủi ro này có thể phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất hoặc từ việc khách hàng đưa ra quyết định sử dụng vốn vay. • Căn cứ vào tính chất rủi ro - Rủi ro do tồn đọng vốn: là khi khách hàng sử dụng vốn vay không đạt hiệu quả hoặc gặp phải sự cố bất khả kháng nên không thể thanh toán khoản vay đúng hạn hoặc không hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi như đã cam kết trong hợp đồng.
- Rủi ro do mất vốn: là rủi ro do khách hàng không còn khả năng để trả nợ cho ngân hàng. Các tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng 1. Các chỉ tiêu đo lường trực tiếp a) Nợ quá hạn Nợ quá hạn là khoản nợ đã quá hạn thanh toán nhưng khách hàng vẫn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hoàn trả một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi như đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng. Dựa vào thời gian quá hạn cụ thể, nợ quá hạn sẽ được chuyển vào nợ nhóm 2 đến nhóm 5 (căn cứ theo thông tư 11/2021/TT-NHNN1).
Đối với các ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì mức độ chịu rủi ro sẽ càng lớn. Bởi, ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian nên việc quay vòng vốn liên tục là hết sức cần thiết, những khoản nợ không thể thu hồi sẽ làm gián đoạn hoạt động kinh doanh và gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các TCTD. Bên cạnh đó, nợ quá hạn gia tăng còn dẫn đến một số chi phí phát sinh như: chi phí xử lý TSĐB, chi phí giám sát và pháp lý…tạo áp lực lên chi phí thực tế của ngân hàng. Tuy rằng khoản vay này không thể đóng góp tạo ra nguồn thu nhập nhưng ngân hàng vẫn phải thực hiện trả lãi do sử dụng vốn của khách hàng.
Hệ số nợ quá hạn được phản ánh qua công thức sau: Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = × 100 Tổng dư nợ cho vay b) Nợ xấu Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) cho rằng “Khoản vay được coi là nợ xấu 13 khi thời hạn thanh toán cả gốc và lãi bị quá hạn từ 90 ngày trở lên. Đồng thời, số tiền lãi đã được các TCTD vốn hóa, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận”. Bên cạnh đó, một định nghĩa khác về nợ xấu của Bộ Tư Pháp Việt Nam đưa ra “Nợ xấu là lượng tiền mà ngân hàng trao cho khách hàng vay vốn nhưng không thể thu hồi được. Nó thường xảy ra với những khách hàng kinh doanh thua lỗ hoặc bị phá sản, mất khả năng chi trả khoản vay theo đúng luật.” Ngoài ra, căn cứ vào Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN1 có phát biểu về định nghĩa “Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5.” Tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu vô cùng quan trọng để đánh giá mức độ hiệu quả của chất lượng tín dụng.
Tỷ lệ nợ xấu càng tăng cao cho thấy những khoản vay đang không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, mặt khác nó còn gia tăng rủi ro tiềm ẩn và khiến cho ngân hàng phải bỏ ra chi phí nhiều hơn để trích lập DPRRTD. Ngoài ra, ở mức độ nghiêm trọng, nếu ngân hàng không thể quản lý, kiểm soát kịp thời nợ xấu thì sẽ kéo theo hàng loạt hậu quả nặng nề cho hệ thống ngành ngân hàng. Từ đó, làm cho việc lưu thông tiền tệ ở trong nước bị rối loạn, sản xuất đình trệ và dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế nước nhà. Tỷ lệ nợ xấu được phản ánh qua công thức sau: Dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu (%) = × 100 Tổng dư nợ cho vay c) Trích lập DPRRTD DPRRTD là số tiền được hạch toán vào chi phí của ngân hàng để bù đắp tổn thất cho các khoản tín dụng phát sinh rủi ro.
Theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN1 đã chia DPRR thành 2 phần chính là chung và cụ thể. Trong đó, dự phòng chung là khoản bảo hiểm dùng để bù đắp cho các rủi ro chưa thể xác định trong danh mục tín dụng (Nguyễn Thị Kim Nhung và nnk, 2017). Còn dự phòng cụ thể là khoản bảo hiểm dùng để bù đắp rủi ro với từng khoản vay đã được xác định (Nguyễn Thị Kim Nhung và nnk, 2017). Toàn bộ số tiền dùng để trích lập dự phòng được rút ra từ chi phí hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Trong trường hợp phát sinh rủi ro, ngân hàng sẽ ưu tiên sử dụng dự phòng cụ thể trước và dự phòng chung sau. Các chỉ số phản ánh trên DPRRTD gồm có: 14 𝐷𝑃𝑅𝑅𝑇𝐷 đượ𝑐 𝑡𝑟í𝑐ℎ 𝑙ậ𝑝 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ Tỷ lệ DPRRTD (%) = × 100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra kết quả rằng “những ngân hàng cấp tín dụng cho các phương án, dự án cho vay càng rủi ro thì tỷ lệ DPRRTD càng lớn”. d) Hệ số bù đắp rủi ro Ngoài hai tiêu chí là DPRR cụ thể và DPRR chung được nhắc đến trong Thông tư số 11/2021/TT-NHNN1 thì còn một hệ số khác có thể dùng để thay thế đánh giá mức độ RRTD là: 𝐷𝑃𝑅𝑅𝑇𝐷 đượ𝑐 𝑡𝑟í𝑐ℎ 𝑙ậ𝑝 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ỳ Hệ số bù đắp RRTD (lần) = 𝑁ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 𝑘ℎó đò𝑖 Hệ số này cho người nghiên cứu hiểu được một đồng của nợ quá hạn khó đòi cần phải được bù đắp tương đương bao nhiêu đồng DPRRTD. Nếu hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1 thì mức độ phải chịu tổn thất của ngân hàng sẽ càng nhỏ và ngược lại.
Các chỉ tiêu đo lường gián tiếp a) Quy mô tín dụng Tuy rằng quy mô tín dụng chưa thể được coi là yếu tố tác động trực tiếp đến RRTD nhưng nếu ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động tín dụng vượt tầm kiểm soát thì ngay lúc đó đã phát sinh RRTD. Chỉ tiêu này được phản ánh trên hệ số RRTD: 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 Hệ số RRTD (%) = × 100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Hệ số RRTD dùng để phản ánh mức độ chú trọng vào danh mục tài sản của ngân hàng trong hoạt động cấp tín dụng. Kết quả của hệ số này càng cao, thể hiện mức độ tập trung RRTD vào trong các danh mục tài sản của ngân hàng càng lớn. Thế nên, để giảm thiểu tổn thất do RRTD gây ra thì các ngân hàng cần phải mở rộng khoản vay, đa dạng hóa các danh mục đầu tư hay cung ứng nhiều loại hình sản phẩm, dịch vụ tài chính khác nhau để phân tán bớt rủi ro.