CHƯƠNG 1 Chương này luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Theo Fitch (1997) thì RRTD là một loại rủi ro mà ngân hàng không thể nhận được khoản thanh toán của người vay với khoản nợ như đã thỏa thuận trong hợp đồng, dẫn đến sai hạn trả nợ và nghĩa vụ trả nợ. Điều này tạo điều kiện hình thành RRTD tại NHTM, đây là một loại rủi ro song song với rủi ro lãi suất tại ngân hàng.
Santomero (1997) cũng cho rằng RRTD tại NHTM được hình thành từ việc mà khách hàng vay tiền không sẵn sàng hoặc không có năng lực để thanh toán các khoản gốc và lãi vay như đúng thời hạn mà đã giao kết với ngân hàng. Crouhy và cộng sự (2006) cũng cho rằng RRTD là một trong những rủi ro xảy ra trong quá trình cấp tín dụng, nó được phát sinh khi khách hàng được cấp tín dụng không muốn hay không có khả năng để thanh toán các khoản nợ đúng hạn với ngân hàng. Điều này tương đồng với định nghĩa của Ủy ban Basel (2006) về RRTD, ngoài ra Ủy ban này cũng cho rằng RRTD là rủi ro mà ngân hàng phải hứng chịu sự thất thoát tài sản khi bên khách hàng được cấp tín dụng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện như trên hợp đồng, trong đó bao gồm cả gốc và lãi của khoản vay. Nguyễn Văn Tiến (2015) đã cho rằng RRTD là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM hay trên thị trường tài chính.
Đây được xem là rủi ro mà khách hàng không thể chi trả được khoản nợ vay của mình với ngân hàng khi đã đến hạn thanh toán. Điều đó dẫn đến ngân hàng hay còn được gọi là bên cho vay phải chịu rủi ro này khi chấp nhận hợp đồng tín dụng. Biểu hiện chính của RRTD là khách hàng chậm trả nợ, trả không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn kể cả gốc và lãi. Do đó, tạo ra những tổn thất rất lớn về tài chính cũng như thu nhập trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Tóm lại, từ những định nghĩa trên thì đối với luận văn này thì RRTD được hiểu là rủi ro trong hoạt động của NHTM và nó xuất hiện trong việc cấp tín dụng cho khách 9 hàng của NHTM. Trong đó khách hàng có thể là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, các cá nhân, RRTD sẽ xảy ra khi các đối tượng này không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đúng hạn đã cam kết với NHTM. Sự sai hạn này có thể là trả chậm, trả không đúng giá trị nợ, không trả nợ gồm gốc lãi cho ngân hàng mặc dù đã cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn. Chính vì vậy tạo ra rủi ro hoạt động cho ngân hàng, hay nói cách khác RRTD là rủi ro tạo ra tổn thất về tài chính, suy giảm tài sản hay làm cho NHTM có sự suy kém về hoạt động kinh doanh và dẫn đến những rủi ro hoạt động khác cũng như sự ổn định cho ngân hàng.
Phân loại rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) có nhiều cách để tiếp cận với RRTD trong đó có hai cách tiếp cận chính đó là phụ thuộc vào mức độ tổn tất, đối tượng sử dụng và phạm vi của RRTD. Theo mức độ tổn thất của rủi ro tín dụng Khi căn cứ vào mức độ tổn thất của rủi ro tín dụng thì sẽ có hai loại rủi ro là mất vốn và đọng vốn. Trong đó: Rủi ro mất vốn là rủi ro mà khách hàng không thể trả nợ được khoản được cấp tín dụng khi đến hạn của hợp đồng, trong đó có cả vốn gốc và lãi vay. Vào thời điểm này thì NHTM chỉ phụ thuộc vào việc thu hồi khoản này khi tiến hành thanh lý TSĐB của khách hàng khi thế chấp.
Đối với rủi ro mất vốn thì ngân hàng sẽ bị gia tăng chi phí khi đòi nợ, chi phí hoạt động quản lý, giám sát hay suy giảm lợi nhuận và bắt buộc ngân hàng phải tăng giá trị chi phí do dự phòng RRTD để xóa nợ. Rủi ro đọng vốn là rủi ro mà khách hàng khi đến hạn thanh toán mà chưa thực hiện nghĩa vụ hoạc chỉ trả một phần cho ngân hàng, điều này dẫn đến các khoản vốn thu hồi của ngân hàng bị đọng lại, đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng và thanh toán lãi hay gốc cho các khoản tiền gửi huy động khi đến hạn. Theo đối tượng sử dụng Theo đối tượng sử dụng thì RRTD có ba nhóm chính đó là rủi ro khách hàng cá thể hay chính là các cá nhân vay vốn ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích kinh doanh 10 hay cải thiện đời sống. Thứ hai là rủi ro từ các tổ chức kinh tế, định chế tài chính hay công ty thực hiện vay vốn ngân hàng để duy trì hoạt động kinh doanh, bổ sung vốn lưu động hay các hoạt động đầu tư khác.
Cuối cùng đó là rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý đây là rủi ro liên quan đến diện rộng đề cập đến sự ảnh hưởng của nền kinh tế nói chung, thiên tai, địch hại, chiến tranh,… có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hoạt động kinh tế nói chung của nền kinh tế và ngành ngân hàng nói riêng. Theo phạm vi của rủi ro tín dụng Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân chia RRTD thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. RRTD cá biệt là rủi ro xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân như đặc điểm ngành hay loại hình kinh tế của khách hàng vay, tình hình và khả năng tài chính của khách hàng, khả năng quản trị của khách hàng và đạo đức nghề nghiệp, cùng với đó là các nguyên nhân khách quan và chủ quan khác.
RRTD hệ thống là rủi ro xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống bao gồm: Sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại RRTD tại các NHTM có nhiều nguyên nhân dẫn đến trong đó tập trung vào các khía cạnh khách quan, từ phía khách hàng và từ phía NHTM (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Nguyên nhân từ các khía cạnh khách quan Môi trường kinh tế: Vấn đề này đề cập đến sự tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế nói chung.
Nếu hoạt động của NHTM được đặt trong môi trường kinh tế tăng trưởng thì kinh doanh của ngân hàng sẽ ổn định, bền vững điều này tạo điều kiện cho hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng phát triển và gặp ít rủi ro. Ngược lại nếu môi trường kinh tế có sự suy giảm hay khó khăn kéo dài thì hoạt động kinh doanh 11 lẫn cấp tín dụng tại ngân hàng cũng bị ảnh hưởng xấu theo. Mặt khác, với sự hội nhập về kinh tế sẽ tạo môi trường tự do hóa khiến các hoạt động kinh doanh có những nét thuận lợi cho ngân hàng, nhưng từ đó tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt cho các ngân hàng tạo ra sự đào thải, từ đó làm cho các NHTM gặp nguy cơ với RRTD khi muốn gia tăng sự cạnh tranh của mình bằng cách gia tăng dư nợ tín dụng nhanh chóng. Môi trường pháp lý: Vấn đề này đề cập những sự bất cập hay khoảng trống trong việc ban hành, áp dụng hay thi hành luật pháp hoặc sự thiếu đồng bộ trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật.
Do đó, tạo ra sự khó khăn trong việc quản trị, ngăn chặn và phòng ngừa các rủi ro tại ngân hàng. Môi trường xã hội: Hoạt động kinh doanh của các đối tượng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và NHTM luôn phải chịu sự tác động của các biến động về kinh tế, chính trị trong nước và nước ngoài. Những sự biến động này chủ yếu tập trung vào sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại, sức mua của đồng tiền, nhu cầu tiêu dùng,… chính những sự thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế, các doanh nghiệp và kể cả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nguyên nhân đến từ khách hàng đi vay RRTD tại các NHTM đến từ khách hàng đi vay điển hình nhất đó chính là việc mà khách hàng sử dụng vốn vay không đúng với cam kết trên hợp đồng tín dụng, hay nói cách khác là sử dụng vốn sai mục đích.
Từ đó tạo ra sự sai lệch trong việc hoạt động kinh doanh hay nguồn thu nhập để trả nợ nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng. Đồng thời, khách hàng vay vốn có khả năng quản lý hoạt động kinh doanh và hoạch định chiến lược kém nên thu nhập không ổn định và kém hiệu quả. Mặt khác, các hoạt động kinh doanh của khách hàng không có tính ổn định, thiếu sự bền vững, hay tình hình tài chính có sự không rõ ràng dẫn đến nguồn trả nợ cho ngân hàng gặp khó khăn. Đặc biệt, các khách hàng thiếu hay không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng, hoặc muốn chiếm dụng vốn này để thực hiện các mục đích cá nhân khác và có thái độ bất hợp tác với nhân viên tín dụng hay bộ phận thu hồi nợ, đây được xem là 12 hiện tượng cố tình thực hiện hành vi chiếm đoạt hay lừa đảo của khách hàng.
Ngoài các khách hàng cá nhân thì các khách hàng doanh nghiệp khi trình bày các phương án kinh doanh, các khoản thu nhập để trả nợ để cho các NHTM và các cấp phê duyệt, thì có sự thông đồng để tránh được các sự kiểm tra, phân tích và xem xét kĩ lưỡng nhằm đạt được mục đích vay vốn.