Chương 1 khái quát lý do chọn đề tài, song song với mục tiêu thì xác định các nhiệm vụ cần phải giải quyết. Để hoàn thành được các câu hỏi, chương này đã trình bày phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu đóng góp của đề tài này cho các NHTM Việt Nam và định ra kết cấu của luận văn để tạo cơ sở trình bày cho các chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý thuyết về nợ xấu tại các ngân hàng thương mại 2. Khái niệm nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Nợ xấu đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị, quản lý tại ngân hàng, cũng như các nhà làm chính sách, nhà khoa học tại các quốc gia trên thế giới. Thuật ngữ “nợ xấu” (Non-Performing loans) có thể được thay thế bằng nợ khó đòi theo như Fofack (2005), hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997). Nợ xấu cũng có thể được định nghĩa là các khoản nợ không trả được (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ khoản vay đó.
Định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Liên hợp quốc (Nhóm chuyên gia tư vấn – AEG) cho rằng “ một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Một số quốc gia trên thế giới (trong đó có Trung Quốc) áp dung định nghĩa này của IMF. Định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra thời gian quá hạn chi trả một khoản nợ bị coi là “xấu” (có thể là 30-89 ngày, 90-179 ngày, trên 180 ngày ở các quốc gia khác nhau) mà cho rằng đó là “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Thực tế, khái niệm nợ xấu không hoàn toàn đồng nhất ở các quốc gia khác nhau.
“ Hiện nay, ngoài quan niệm nợ xấu của các quốc gia, một số tổ chức quốc tế cũng đã đề cập đến khái niệm này. Nợ xấu theo quan điểm của IMF được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii): khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ ” và khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng “ 8 hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ.
Như vậy, quan điểm về nợ xấu của IMF dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng, nhưng có bổ sung thêm yếu tố về thời gian quá hạn trả nợ. Đây cũng được xem là định nghĩa phổ biến trên thế giới. ” Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming). Chuẩn mực kế toán IAS 39 được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan (objective evidence) để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị.
Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống vì những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra. Về cơ bản IAS 39 chú trọng khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn.
Tại Việt Nam, theo thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 quy định về “ phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro về việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Nợ ” xấu được định nghĩa của thông tư cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố là nợ đã quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại của người vay. Tóm lại, tỷ lệ nợ xấu (NPLs: Non – Performing Loans) là những khoản cấp tín dụng của NHTM không có khả năng sinh lời do khách hàng vay của ngân hàng “ mất khả năng thanh toán hay có nguy cơ vỡ nợ. Trong đó, tỷ lệ nợ xấu được xác định theo tiêu chuẩn chung của quốc tế và đặc thù của mỗi quốc gia với hoạt 9 động kinh doanh riêng biệt của hệ thống NHTM.
Tỷ lệ này được đo lường thông qua các khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3, 4, 5 theo TT11/2021/TTNHNN, các nhóm nợ quá hạn này được các NHTM xếp vào tính chất khó thu hồi hoặc không thu hồi được. Nếu như tỷ lệ này càng gia tăng thì các NHTM phải đối diện với việc suy giảm tài sản, lợi nhuận và uy tín của NH để thanh toán các khoản tiền gửi tiết kiệm với khách hàng. Do đó nợ xấu được xem là một chỉ tiêu quan trọng ” để phản ánh cho RRTD tại các NHTM (Salas và Saurina, 2002, Das và Ghosh, 2007, Chaibi và Ftiti, 2015). Phân loại nợ tại các ngân hàng thương mại Phân loại nợ được hiểu là quá trình các NHTM xem xét các danh mục cho vay của từng ngân hàng và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng giữa các khoản vay.
Việc này giúp cho NHTM có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và trong trường hợp cần thiết sẽ có biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng các danh mục cho vay. Việc phân loại và lập dự phòng gây nhiều khó khăn cả về mặt lý thuyết và thực tế, hiện nay tại các NHTM đa dạng về hệ thống phân loại và lập dự phòng. Nhằm mục tiêu hướng tới sự thống nhất trong phân loại các khoản nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ở các quốc gia, ủy ban Basel đưa ra những hướng dẫn, nguyên tắc quan trọng nhưng không đưa ra một hệ thống phân loại nợ thống nhất hay các quy trình chuẩn hóa để đánh giá rủi ro tín dụng. Tại Việt Nam, quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng được thực hiện theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 điều chỉnh bổ sung 493/2005/QĐ-NHNN.
Hiện nay theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập DPRR và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì đối với doanh nghiệp có từ hai khoản nợ tại các TCTD, nếu có một 10 khoản nợ nào bị phân loại vào nhóm có mức độ rui ro cao hơn các khoản nợ thì các khoản nợ còn lại ở các TCTD phải phân loại vào nhóm có rủi ro cao nhất. Nợ quá hạn là khoản nợ đối với TCTD mà người đi vay (cá nhân hoặc tổ chức) “ khi đến ngày trả nợ theo hợp đồng nhưng lại không thể trả gốc và lãi đúng, đủ theo trên hợp đồng. Nợ quá hạn là những khoản nợ không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Trong đó: ” • Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Khoản nợ này trong hạn có khả năng thu hồi “ gốc lãi đúng như hợp đồng.
Hoặc khoản nợ có quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là vẫn có thể thu hồi cả gốc, lãi và lãi quá hạn đúng thời hạn. ” • Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Có thời hạn quá hạn từ 10 đến 90 ngày, khoản nợ có điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu. • Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Có thời hạn quá hạn từ 91 ngày đến 180 “ ngày, nợ gia hạn lần đầu. Khoản nợ được miễn giảm lãi do KH không đủ khả năng chi trả lãi đầy đủ theo thoả thuận ban đầu.
• Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Có thời hạn quá hạn từ 181 đến 360 ngày, nợ cơ cấu thời hạn lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần đầu và cơ cấu nợ lần thứ hai. • Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Có thời hạn quá hạn hơn 360 ngày, các khoản cơ cấu nợ lần một và lần hai đều không thể trả được cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. ” Trong đó khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn; nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Tuy nhiên, tổ chức tín dụng vẫn có quyền chủ động phân loại nợ vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm.
Chỉ tiêu đo lường nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của NHNN Việt Nam, nợ 11 xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3, 4, 5. Khái niệm nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) Các khoản dư nợ đã quá hạn từ 91 ngày trở lên; (ii) Khả năng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại bị nghi ngờ (có thể là khách hàng không thể trả nợ hoặc trả nợ không đủ) và quan điểm này được thế giới áp dụng phổ biến. Trên thế giới, thường xem xét quan điểm khách hàng phát sinh nợ xấu là do khách hàng không có khả năng trả nợ. Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = ∗ 100% Tổng dư nợ cho vay Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2015) Tỷ lệ nợ xấu phản ánh chất lượng và mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng mà ngân hàng có, đây được xem là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng RRTD của NHTM.