Chương I quy định “Rủi ro tín dụng là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.2 Định nghĩa nợ xấu: Các định nghĩa về nợ xấu theo chuẩn quốc tế: Nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing loan” (NPL), “doubtful debt”, thông thường nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi khách hàng vay đã tuyên bố phá sản hoặc đã 2 tẩu tán tài sản. Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau. Có thể nhắc tới một số khái niệm nợ xấu như sau: Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG): Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng. AEG thống nhất định nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Nói cách khác, nợ xấu được xác định trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ.1 Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể.
Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được.2 Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS): 3 Chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming). Chuẩn mực kế toán IAS 39 được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra.
Về cơ bản IAS39 chú trọng tới khả năng hoàn trả củakhoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó vẫn đang được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại trong IFRS 9.3 Khái niệm nợ xấu của Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF): Trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS), IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản).
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, khoản hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế.4 Khái niệm nợ xấu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN do NHNN ban hành ngày 21/01/2013, được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 thì nợ xấu được định nghĩa là là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). 4 * Nhận xét: Như vậy, trừ các trường hợp khác, trường hợp phổ biến của nợ xấu được xét đến là có thời gian quá hạn từ 91 ngày trở lên. Từ những định nghĩa trên có thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu nó xuất hiện 1 hoặc cả 2 dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ.
Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản. Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước. Nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các TCTD, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi ro.
Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến TCTD bị thua lỗ và giảm lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của TCTD. Tình trạng này kéo dài sẽ làm TCTD bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng. Chính vì vậy, việc nhận diện nợ xấu và xử lý nợ xấu là một trong những vấn đề quan trọng trong tái cấu trúc hệ thống tài chính.3 Các nhân tố tác động đến nợ xấu: Rủi ro hoạt động tín dụng nói chung và nợ xấu nói riêng là điều không tránh khỏi, nó tồn tại khách quan cùng với sự tồn tại của hoạt động tín dụng. Vì vậy người ta không thể xóa sạch nợ xấu mà chỉ có thể hạn chế rủi ro đó xảy ra bằng cách đưa ra biện pháp quản lý rủi ro tín dụng ở mức tối ưu.
Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu có thể tựu trung lại trong các nhóm nhân tố sau: 1.1 Nhân tố chủ quan: 5 */ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ luôn là nhân tố quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Đặc biệt, đối với hoạt động tín dụng thì nhân tố con người lại càng quan trọng. Đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng lớn đến việc triển khai các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng, từ đó tránh làm phát sinh đáng kể nợ xấu.
Những cán bộ tư cách đạo đức tốt, trình độ giỏi sẽ là một ”mắt xích” quan trọng của quy trình quản lý rủi ro. Ngược lại, những cán bộ ngân hàng không có đủ trình độ, không am hiểu về ngành kinh doanh mà mình đang tài trợ sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng. Hoặc nếu cán bộ đó suy giảm phẩm chất đạo đức thì cũng sẵn sàng gây tổn hại cho chính ngân hàng mình bằng việc thoả hiệp với khách hàng khi cấp tín dụng. Chính vì vậy, tuyển chọn và bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ tốt cũng chính là một biện pháp để quản lý rủi ro tín dụng, giảm thiểu nợ xấu.
*/ Công tác kiểm tra nội bộ của ngân hàng. Bộ phận kiểm tra nội bộ của ngân hàng là bộ phận giám sát tín dụng độc lập, kiểm tra sự tuân thủ quy trình, quy chế tín dụng trước, trong và sau khi cho vay. Công tác kiểm tra nội bộ của ngân hàng khi được duy trì thường xuyên cùng với công việc kinh doanh của ngân hàng thì có thể phát hiện nhanh chóng, kịp thời các vấn đề khi vừa phát sinh. Kiểm tra nội bộ được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng, tín dụng càng phát triển mạnh thì công tác kiểm tra nội bộ càng phải được siết chặt nhằm đảm bảo công tác tín dụng đang được thực hiện an toàn.
*/ Hệ thống thông tin báo cáo. Với mục đích triển khai các thông lệ tiên tiến nhất, cần xây dựng và triển khai một hệ thống tích hợp thông tin hiện đại. Hệ thống này phải có khả năng nhập và hợp nhất dữ liệu trên toàn bộ ngân hàng để phục vụ mọi nhu cầu về thông tin và báo cáo của ngân hàng. Hệ thống thông tin phải thu thập được thông tin về khách hàng mà ngân hàng 6 chịu rủi ro, cơ sở dữ liệu cho từng sản phẩm ngân hàng và có khả năng đối chiếu, liên kết Khả năng đối chiếu và liên kết các nguồn dữ liệu nhằm phân tách, tổng hợp dữ liệu phục vụ các yêu cầu khác nhau trong đó có quản lý rủi ro tín dụng.
Đồng thời, hệ thống thông tin phải tạo các thông tin và báo cáo được chuẩn hoá để phục vụ cho các mục đích cụ thể cũng như cho phép xử lý dữ liệu cho phù hợp với mục đích và yêu cầu quản lý. Các thông tin cần phải xuất phát từ hệ thống cốt lõi của ngân hàng, lấy từ dữ liệu đã được kiểm tra tính xác thực khi nhập vào hệ thống và có thể dễ dàng được đối chiếu trên các sổ.