chương 1. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC YẾU TÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI NHTM 2.1 Tổng quan về nợ xấu 2.1 Khái niệm về nợ xấu Nợ xấu được sử dụng với thuật ngữ “bad debt” theo CM Buch (1994), “non- performing loan” (NPL) theo Ahlem Selma Messai và Fathi Jouini (2013), nợ khó đòi (doubtful debt) theo Fofack (2005), các khoản vay có vấn đề (problem loans) theo Berger và De Young (1997). Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ.
Các định chế tài chính đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về nợ xấu, như sau: - Theo nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG, 2004). Một khoản nợ được xem là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc có các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Nói cách khác, nợ xấu được xác định trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ. - Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) (Basel Committee on Banking Supervision, 2006) Một khoản vay được cho là nợ xấu khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: 7 Ngân hàng đánh giá người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện các hành động để cố gắng thu hồi.
Người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. - Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) (IFRS, 2005) Nợ xấu được đề cập là các khoản nợ bị giảm giá trị. Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng.
- Theo Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF, 2004) Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). - Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nợ xấu theo khoản 8 Điều 3 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành tại Thông tư 02/2013 ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam: “Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5”.2 Chỉ tiêu đo lường nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu trên Tổng dư nợ được sử dụng là chỉ tiêu đo lường nợ xấu. Công thức tính: 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 Tỷ lệ nợ xấu = × 100 % 𝑇ổ𝑛𝑔𝑑ư 𝑛ợ 8 Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng.
Tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên cho thấy dấu hiệu ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản vay. Ngược lại, tỷ lệ này thấp cho thấy chất lượng tín dụng tốt.2 Nguyên nhân nợ xấu Trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu nguyên nhân gây ra nợ xấu ngân hàng. Các nghiên cứu cho thấy nợ xấu xảy ra do nhiều nguyên nhân: khách quan và chủ quan. Dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu: 2.1 Nguyên nhân khách quan: - Môi trường tự nhiên: theo như nghiên cứu của Goldstein, M và Turner, P.
(1996) khi có những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng và nợ xấu tăng lên. - Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội: theo Bloem, M và Gorter, N. (2001), ngân hàng với tư cách là trung gian tài chính nên rủi ro trong hoạt động của các NHTM chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi trình độ phát triển của nền kinh tế, chính trị, hành lang pháp lý hay những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế.
Khi những yếu tố này ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đối với ngân hàng.2 Nguyên nhân chủ quan - Sự quản lý yếu kém của Ngân hàng: theo như nghiên cứu của Berger. N và De Young, R, 1997; Brownbridge (1998) thì tác giả cho rằng việc quản trị rủi ro yếu kém dẫn đến việc đánh giá, ngăn ngừa rủi ro thị trường yếu, làm tăng tỷ lệ nợ xấu. Các ngân hàng chưa chú trọng quản trị danh mục cho vay dẫn đến tỷ trọng lớn cho vay những danh mục có rủi ro cao hay chưa chú trọng đến công tác dự báo khi tập trung 9 quá nhiều vốn vào các danh mục có rủi ro cao, những điều này dẫn đến gia tăng tỷ lệ nợ xấu. - Nới lỏng điều kiện phê duyệt tín dụng: theo Keeton (1991) khi nghiên cứu dữ diệu của các ngân hàng ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1982-1996 bằng mô hình véc tơ tự hồi quy đã cho thấy rằng việc cạnh tranh thu hút khách hàng buộc các ngân hàng phải nới lỏng điều kiện tín dụng.
Việc nới lỏng điều kiện phê duyệt tín dụng đã tạo ra nguyên nhân làm tăng nợ xấu của ngân hàng. - Thiếu khách quan trong khâu thẩm định, định giá TSĐB và đánh giá tín dụng: theo nghiên cứu của Wodimagegnehu Negera (2012), việc đánh giá thiếu chính xác khả năng tài chính của người đi vay và giá trị thị trường của tài sản thế chấp là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu như. Trừ những khách hàng có phát sinh nợ xấu bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan như: kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi, khó khăn do thay đổi cơ chế, thay đổi chính sách tăng trưởng của Nhà nước thì hầu hết các khoản nợ xấu bắt nguồn từ việc đánh giá thiếu chính xác khả năng tài chính của người đi vay. Do không xác định được quy mô kinh doanh thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách hàng đối với ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh, không xác định được nguồn thu của khách hàng để đưa ra một mức tín dụng hợp lý.
Hay việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát chặt chẽ theo như nghiên cứu của Berger, N và De Young, R (1997) đã làm tăng tỷ lệ nợ xấu. Bên cạnh đó, theo Bloem. M và Gorter, N (2001), việc định giá TSĐB không chính xác, giá trị TSĐB không được xác định đúng, các thông tin bên ngoài không được thu thập đầy đủ và khách quan dẫn đến việc nợ xấu phát sinh khi khách hàng không có khả năng trả nợ và TSĐB không đủ giá trị để thu hồi. Cũng trong nghiên cứu này, tác giả cho thấy công tác kiểm tra sau khi cho vay, quản lý và giám sát đối với TSĐB chưa được chú trọng làm gia tăng tỷ lệ nợ xấu.
- Nguồn cung cấp thông tin hạn chế: theo nghiên cứu của Goldstein và Turner, P (1996), tác giả cho thấy rằng việc đưa ra quyết định cấp tín dụng phải dựa vào những 10 thông tin có độ tin cậy cao thì mới thực sự đem lại hiệu quả cao. Việc kiểm chứng những thông tin khách hàng cung cấp cũng như những thông tin trên các kênh thông tin gặp nhiều khó khăn làm tăng rủi ro đối với các khoản vay, tăng tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng. - Trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng: theo Rouse. B (1989), đội ngũ cán bộ của NHTM hạn chế về năng lực và trình độ nghiệp vụ, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán khả năng trả nợ cũng như việc thiếu kỹ năng nắm bắt và nhạy bén với các diễn biến kinh tế xã hội nên việc ra quyết định cấp tín dụng dẫn đến các rủi ro tín dụng, tăng tỷ lệ nợ xấu.
- Vấn đề về đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ ngân hàng: hoạt động ngân hàng luôn đặt yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp lên hàng đầu. Theo nghiên cứu Berger và Young (1997), khi vấn đề đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ ngân hàng giảm sút thì tỷ lệ nợ xấu sẽ tăng lên. - Tỷ lệ sở hữu nhà nước: Hu và cộng sự (2006) đã phân tích mối quan hệ giữa nợ xấu và sự cơ cấu sở hữu của các NHTM tại Đài Loan với bộ dữ liệu vào giai đoạn từ năm 1996-1999. Cho thấy hình thức sỡ hữu cũng là một nguyên nhân gây ra nợ xấu: cụ thể là các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao hơn sẽ có các khoản nợ xấu thấp hơn so với các ngân hàng khác.
- Những yếu tố bên trong ngân hàng tác động đến tỷ lệ nợ xấu như quy mô ngân hàng, tỷ lệ ROE. Theo như nghiên cứu của Ranjan, R và Dhal.S (2003) hay Dash, M và Kabra, G (2010) cho rằng khi quy mô ngân hàng càng lớn thì tỷ lệ nợ xấu càng tăng. Tuy nhiên, Salas, V và Saurina, J (2002) khi lại đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng khi quy mô ngân hàng càng lớn thì tỷ lệ nợ xấu càng giảm. Theo như tác giả, ngân hàng lớn thường đa dạng hóa danh mục cho vay làm giảm tỷ lệ nợ xấu; Các yếu tố như tỷ lệ ROE (Ahlem Selma Messai; Fathi Jouini, 2013; Nir Klein, 2013), tỷ lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ (Hasan và Wall, 2004)…đều tác động đến tỷ lệ nợ xấu.
11 - Nhóm yếu tố từ phía khách hàng: theo nghiên cứu của Gou Ninging (2012) thì nguyên nhân dẫn tới nợ xấu tại các NHTM là 40% là do yếu tố bên ngoài, 30% là do trình độ quản trị doanh nghiệp, 30% là do trình độ quản trị ngân hàng.