Tổng quan luận án

Đề tài "Quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phạm Phú Thái thực hiện năm 2021 tại Trường Đại học Thương mại, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Kim Nhung và TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh, thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số 9.10).

Luận án được xây dựng từ yêu cầu cấp thiết khách quan của bối cảnh kinh tế và thực tiễn hoạt động ngân hàng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Khủng hoảng tài chính đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới xuống 1,8% vào năm 2008 (so với mức 4,2% năm 2007) và tiếp tục suy giảm trong năm 2009 (Tuyết Minh, 2018). Tại Việt Nam, quá trình tự do hóa tài chính và gia tăng áp lực cạnh tranh đã thúc đẩy các ngân hàng thương mại (NHTM) mở rộng mạng lưới và tăng trưởng tín dụng nhanh chóng. Hệ quả là nợ xấu tích tụ qua các năm và tăng mạnh: năm 2011 chiếm 3,3% tổng dư nợ; năm 2012 đạt mức 8,6% theo Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và 13% theo Fitch Ratings; đến năm 2013 tăng 23,73% so với năm 2012.

Giai đoạn từ cuối năm 2014 đến năm 2019, các biện pháp tái cơ cấu và sự ra đời của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã đưa tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống về mức kiểm soát khoảng 3%, trong đó tỷ lệ nợ xấu nội bảng năm 2019 đạt 1,63% (thấp hơn ngưỡng mục tiêu 2% theo Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2019). Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với nợ xấu vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn như vướng mắc pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm, bộ máy thanh tra giám sát còn nhiều tầng nấc, phương pháp kiểm tra nặng về tuân thủ và tiến độ tái cơ cấu tự nguyện còn chậm. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là thiếu vắng một công trình tiếp cận có hệ thống, kết hợp phương pháp định tính và định lượng để đánh giá toàn diện các nội dung QLNN đối với nợ xấu trong toàn hệ thống NHTM Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động QLNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam trong toàn bộ quá trình kiểm soát trước, trong và sau khi phát sinh nợ xấu. Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa, phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về QLNN của ngân hàng trung ương (NHTW) đối với nợ xấu của hệ thống NHTM.
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM tại một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học cho Việt Nam.
  3. Phân tích thực trạng QLNN của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam thông qua dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động QLNN của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Cơ sở lý luận về QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM là gì? Các nội dung, phương pháp QLNN và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM gồm những yếu tố nào?
  • Câu hỏi 2: Thực trạng hoạt động QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam diễn ra như thế nào? Những thành tựu và hạn chế trong QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam là gì?
  • Câu hỏi 3: Cần triển khai các giải pháp nào nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn tới?

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động QLNN của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn:

  • Về nội dung: QLNN đối với nợ xấu trong hoạt động tín dụng, cụ thể là hoạt động cho vay của hệ thống NHTM.
  • Về không gian: Khảo sát và phân tích tại 35 NHTM Việt Nam (bao gồm NHTM nhà nước nắm giữ 100% vốn, NHTM cổ phần có vốn nhà nước trên 50%, và các NHTM cổ phần khác; không bao gồm các NHTM 100% vốn nước ngoài).
  • Về thời gian: Dữ liệu thực trạng phản ánh giai đoạn 2010–2019; các giải pháp và định hướng đề xuất áp dụng cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm chủ đề chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về quản lý nợ xấu tại NHTM. Elmira Partovi và Roman Matousek (2019) nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhà lập pháp, hoạt động cho vay và cấu trúc vốn của ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Anastasiou Dimitrios (2016) hệ thống các phương pháp xử lý nợ xấu và phân biệt giữa quản lý nợ cũ và nợ xấu. Mazzu Sebastiano và Muriana Francesco (2018) nghiên cứu các lựa chọn chiến lược giảm nợ xấu của NHTW Châu Âu (ECB) dựa trên 4 thành phần (đánh giá môi trường, phát triển chiến lược, thực hiện kế hoạch, tích hợp quy trình quản lý). Phạm Dương Phương Thảo và Nguyễn Linh Đan (2018) kiểm định 27 NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2005–2016, khẳng định nợ xấu năm trước tác động thuận chiều đến nợ xấu năm hiện tại. Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) phân tích thực trạng và chỉ ra hạn chế trong quản lý nợ xấu nội bộ tại các NHTM Việt Nam. Ngoài ra còn có các công trình của Lin Huey-Yeh và cộng sự (2016), Đoàn Phương Thảo và Tạ Nhật Linh (2014, 2016), Nguyễn Thị Thu Cúc (2015).

Nhóm 2: Các nghiên cứu về QLNN đối với hoạt động của NHTM. Klingelhöfer Jan và Sun Rongrong (2019) chứng minh vai trò của NHTW Trung Quốc qua chính sách an toàn vĩ mô, yêu cầu dự trữ và giám sát thị trường. Danisman Gamze Ozturk và Demirel Pelin (2019) phân tích 6.936 ngân hàng tại 25 quốc gia phát triển giai đoạn 2007–2015, nhấn mạnh quy định về vốn là công cụ kiểm soát rủi ro hiệu quả. Ngược lại, Nguyen Thi Thieu Quang, Gan Christopher và Li Zhaohua (2019) khi nghiên cứu các ngân hàng Châu Á giai đoạn 2002–2016 nhận thấy quy định vốn có tác động tiêu cực đến vốn tự có và không làm giảm rủi ro đáng kể. Leonardo Gambacorta và Andrés Murcia (2019) chỉ ra chính sách vĩ mô tại Mỹ Latinh có tác động nhanh hơn khi phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ. Yener Altunbas, Mahir Binici và Leonardo Gambacorta (2018) kết luận chính sách an toàn vĩ mô thắt chặt hiệu quả hơn trong việc hạn chế rủi ro so với chính sách nới lỏng. Tại Việt Nam, Trịnh Thị Thủy (2015) phân tích thực trạng QLNN đối với NHTM; Trần Trọng Phong và Cao Việt Thắng (2014) đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quản trị rủi ro ngân hàng dựa trên chuẩn mực Basel (I, II, III).

Nhóm 3: Các nghiên cứu về QLNN đối với nợ xấu của NHTM. Baudino Patrizia và Yun Hyuncheol (2017) thuộc BIS chỉ ra tính khả thi của các chính sách xử lý nợ xấu khi gắn kết với chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô. Nguyễn Lê Nguyên Dung (2019) đề xuất giải pháp phối hợp liên ngành nhằm nâng cao năng lực xử lý nợ của VAMC gắn với tái cơ cấu các tổ chức tín dụng. Nguyễn Tiến Đông (2019) và Nguyễn Thu Hương (2016) tập trung vào giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ xấu tập trung và cơ chế định giá nợ xấu tại Việt Nam. Đề tài cấp ngành của Tô Ngọc Hưng (2013) nghiên cứu xử lý nợ xấu trong quá trình tái cấu trúc NHTM. Phạm Tiên Phong và cộng sự (2014) thuộc NHNN xây dựng khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô cho hệ thống tài chính giai đoạn 2018–2023. Nguyễn Trí Hiếu (2012) nghiên cứu tái cấu trúc ngân hàng và xử lý nợ xấu ở cấp độ quốc gia.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Qua tổng hợp tài liệu, tác giả chỉ ra 5 điểm hạn chế của các công trình đi trước: (1) Nghiên cứu về chính sách QLNN đối với nợ xấu mới được quan tâm sau khủng hoảng tài chính, chưa cập nhật kịp thời sự thay đổi nhanh của môi trường pháp lý Việt Nam; (2) Thiếu một khung cơ sở lý luận thống nhất và toàn diện về QLNN đối với nợ xấu của NHTM; (3) Rất ít công trình đi sâu phân tích có hệ thống những khó khăn, bất cập trong khâu thực thi QLNN; (4) Phương pháp nghiên cứu chủ yếu đơn lẻ (thuần túy định tính hoặc định lượng), thiếu sự kết hợp đan xen giữa hai phương pháp; (5) Các đề xuất giải pháp trước đây còn mang tính định tính chung chung, tính khả thi thực tế chưa cao. Từ đó, luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập khung lý luận thống nhất, đánh giá thực trạng bằng phương pháp hỗn hợp và xây dựng các nhóm giải pháp đồng bộ cho hệ thống NHTM Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các khái niệm và chuẩn mực quốc tế kết hợp quy định pháp luật Việt Nam để làm rõ bản chất nợ xấu và QLNN đối với nợ xấu:

  • Khái niệm nợ xấu: Luận án tổng hợp định nghĩa của ECB (2001 - căn cứ trên khả năng thu hồi), IMF (2004 - nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên hoặc có nghi ngờ về khả năng trả nợ), Ủy ban Basel (2000 - vi phạm nghĩa vụ thanh toán trên 90 ngày hoặc thủ tục phá sản). Luận án thống nhất sử dụng khái niệm theo quy định của NHNN Việt Nam tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN: nợ xấu gồm nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn, quá hạn 91–180 ngày, trích lập dự phòng cụ thể 10%), nhóm 4 (nợ nghi ngờ, quá hạn 181–360 ngày, trích lập dự phòng cụ thể 50%) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn, quá hạn trên 360 ngày, trích lập dự phòng cụ thể 100%).
  • Nguyên nhân phát sinh nợ xấu: Luận án phân loại thành 3 nhóm nguyên nhân chính: (1) Môi trường khách quan (thiên tai, hệ thống pháp lý, xử lý tài sản bảo đảm, đạo đức khách hàng); (2) Kinh tế vĩ mô (chu kỳ kinh tế, bùng nổ tín dụng theo Kiyotaki và Moore 1997, Geanakoplos và Zame 2009); (3) Chủ quan từ phía ngân hàng (tăng trưởng tín dụng nóng theo Sinkey và Greenwalt 1991, lãi suất cho vay cao theo Rajan và Zingales 2003, nới lỏng điều kiện cấp tín dụng theo Waweru và Kalini 2009).
  • Nội dung QLNN đối với nợ xấu: Luận án xác định 4 trụ cột can thiệp của NHTW/NHNN gồm: (1) Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng; (2) Tổ chức thực hiện QLNN (phân loại nợ, trích lập dự phòng, xử lý tài sản bảo đảm, tái cơ cấu, thành lập VAMC); (3) Kiểm tra, thanh tra, giám sát nợ xấu; (4) Xử lý vi phạm trong hoạt động cấp tín dụng.

Quy trình nghiên cứu được triển khai theo 6 bước tuần tự:

  • Bước 1: Xác định chủ đề, đối tượng nghiên cứu và định vị tiếp cận.
  • Bước 2: Xây dựng cơ sở lý luận, đề xuất mô hình, thang đo và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế.
  • Bước 3: Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp.
  • Bước 4: Phân tích thực trạng nợ xấu, kiểm định mô hình định lượng và các yếu tố tác động.
  • Bước 5: Phân tích bối cảnh, dự báo diễn biến nợ xấu và đề xuất giải pháp, kiến nghị.
  • Bước 6: Soạn thảo hoàn thiện luận án và bảo vệ.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp thống kê, mô tả, đối chiếu, so sánh và suy diễn - tổng hợp để phân tích khung pháp lý, dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thường niên của NHNN, Tổng cục Thống kê, các văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Quyết định 254/QĐ-TTg, Quyết định 843/QĐ-TTg, Nghị quyết 42/2017/QH14, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017). Bên cạnh đó, tác giả tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc 18 chuyên gia và nhà nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu và ngân hàng (thực hiện từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019, thời lượng mỗi cuộc phỏng vấn từ 60 đến 90 phút).
  • Nghiên cứu định lượng: Xây dựng phiếu khảo sát gồm thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 - Rất thấp đến 5 - Rất cao). Tác giả thực hiện điều tra thử trên 10 người trước khi gửi chính thức hơn 200 bảng hỏi qua bưu điện, thư điện tử và phát trực tiếp trong khoảng thời gian từ tháng 01/2020 đến tháng 02/2020. Kết quả thu về 162 bảng hỏi hợp lệ từ nhân sự quản lý và nghiệp vụ tại 35 NHTM Việt Nam. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS thông qua kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và phân tích hồi quy bội.

Dưới đây là bảng tổng hợp đặc điểm mẫu khảo sát định lượng (Bảng 1.1 trong luận án):

Tiêu chí phân loại Số lượng (N=162) Tỷ lệ (%)
Vị trí công tác của người trả lời
Thành viên Ban Kiểm soát 6 3,70%
Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc 18 11,11%
Lãnh đạo Ban/Khối Quản trị rủi ro, Pháp chế và AMC 20 12,35%
Nhân viên Khối Quản trị rủi ro, Pháp chế và AMC 118 72,84%
Loại hình ngân hàng
NHTM Nhà nước (100% vốn Nhà nước) 10 6,17%
NHTM Cổ phần có vốn Nhà nước (> 50%) 17 10,49%
NHTM Cổ phần khác 135 83,33%
Quy mô lao động
Dưới 3.000 người 56 34,57%
Từ 3.000 đến dưới 10.000 người 60 37,04%
Từ 10.000 đến dưới 20.000 người 26 16,05%
Trên 20.000 người 20 12,35%
Quy mô vốn điều lệ
Dưới 5.000 tỷ đồng 54 33,33%
Từ 5.000 đến dưới 10.000 tỷ đồng 44 27,16%
Từ 10.000 đến dưới 20.000 tỷ đồng 28 17,29%
Từ 20.000 đến dưới 30.000 tỷ đồng 7 4,32%
Từ 30.000 tỷ đồng trở lên 29 17,90%
Thời gian hoạt động (Tuổi ngân hàng)
Dưới 5 năm 6 3,70%
Từ 5 đến dưới 10 năm 13 8,02%
Từ 10 đến dưới 15 năm 28 17,28%
Từ 15 đến dưới 25 năm 33 20,37%
Từ 25 năm trở lên 82 50,62%

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 1 thực hiện tổng quan các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quản lý nợ xấu tại NHTM, QLNN đối với hoạt động ngân hàng và QLNN đối với nợ xấu. Tác giả phân tích điểm mạnh, hạn chế của các nghiên cứu tiền nhiệm và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam. Đồng thời, chương này thiết lập chi tiết quy trình nghiên cứu 6 bước, xây dựng phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng, xác định nguồn dữ liệu thứ cấp và mô tả cụ thể quá trình thu thập dữ liệu sơ cấp từ 18 cuộc phỏng vấn chuyên gia và 162 phiếu khảo sát điều tra hợp lệ tại 35 NHTM Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về chức năng của NHTM (thủ quỹ xã hội, trung gian tín dụng, trung gian thanh toán); các khái niệm, phân loại và hệ thống 6 chỉ tiêu đo lường nợ xấu (tổng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ, tỷ lệ nợ khó đòi, tỷ lệ xóa nợ/tổng dư nợ, tỷ lệ dự phòng tổn thất tín dụng/tổng dư nợ, tỷ lệ dự phòng/nợ xấu). Tác giả phân tích tác động tiêu cực của nợ xấu tới chi phí hoạt động, thanh khoản, nguồn vốn và sự ổn định hệ thống.

Chương này luận giải tính tất yếu khách quan của QLNN đối với nợ xấu và phân tích 4 nội dung QLNN của NHTW: (1) Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng; (2) Tổ chức thực hiện QLNN (quy định phân loại nợ nhóm 3, 4, 5, trích lập DPRR, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm, vận hành mô hình VAMC); (3) Kiểm tra, giám sát nợ xấu; (4) Xử lý vi phạm vượt ngưỡng an toàn. Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết đánh giá tác động của 4 nội dung này tới hiệu quả QLNN đối với nợ xấu, phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng (môi trường, NHTW, NHTM), đồng thời tổng hợp bài học kinh nghiệm QLNN đối với nợ xấu từ một số quốc gia.

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 3 khái quát cơ cấu tổ chức NHNN và hệ thống NHTM Việt Nam, phân tích diễn biến nợ xấu giai đoạn 2010–2019 gắn liền với biến động tăng trưởng tín dụng, lạm phát, lãi suất cho vay và quy mô tài sản ngân hàng. Tác giả đánh giá thực trạng triển khai 4 nội dung QLNN tại Việt Nam, phân tích kết quả định lượng từ 162 mẫu khảo sát qua phân tích nhân tố khám phá EFA đối với 4 biến độc lập (Bảng 3.8) và biến phụ thuộc (Bảng 3.9), phân tích nhân tố khẳng định CFA (Bảng 3.10), ma trận tương quan (Bảng 3.11) và kết quả hồi quy bội (Bảng 3.12).

Chương 3 cũng đánh giá thực trạng các yếu tố tác động từ môi trường (Bảng 3.13), từ NHNN (Bảng 3.14), từ NHTM (Bảng 3.15) và thực trạng hiệu quả QLNN (Bảng 3.16). Tác giả tổng kết các thành tựu đạt được (tỷ lệ nợ xấu giảm dần, hệ thống pháp lý từng bước hoàn thiện với Nghị quyết 42/2017/QH14, mô hình VAMC phát huy tác dụng bước đầu), đồng thời chỉ ra các hạn chế: khuôn khổ pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm và thi hành án còn vướng mắc; bộ máy thanh tra giám sát nhiều tầng trung gian, nặng về kiểm tra tuân thủ; tiến độ tái cơ cấu tự nguyện còn chậm; tỷ lệ nợ nhóm 5 có khả năng mất vốn có xu hướng tăng nhanh.

Chương 4: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 4 đưa ra các dự báo về bối cảnh tín dụng trong nước, quốc tế và xu hướng biến động nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam. Tác giả xác định rõ các quan điểm và định hướng hoàn thiện QLNN đối với nợ xấu giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, chương này đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường pháp lý: Hoàn thiện quy định về xử lý tài sản bảo đảm, luật hóa các quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 thành luật chung, hoàn thiện cơ chế tố tụng và thi hành án tín dụng.
  2. Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện: Nâng cao năng lực tài chính và quyền hạn xử lý nợ thực chất của VAMC, phát triển thị trường mua bán nợ tập trung, đẩy nhanh tái cơ cấu và sáp nhập các ngân hàng yếu kém.
  3. Nhóm giải pháp tăng cường công tác thanh tra, giám sát: Đổi mới cơ cấu bộ máy thanh tra giám sát theo hướng tinh gọn, chuyển từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra trên cơ sở rủi ro (risk-based supervision), ứng dụng công nghệ thông tin trong cảnh báo sớm nợ xấu.
  4. Nhóm giải pháp về xử lý vi phạm: Thiết lập chế tài nghiêm khắc đối với các trường hợp vi phạm tỷ lệ an toàn vốn, che giấu nợ xấu hoặc cấp tín dụng sai quy định. Chương 4 khép lại bằng các kiến nghị cụ thể gửi tới Chính phủ và các bộ ngành liên quan (Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao) nhằm đồng bộ hóa quy trình xử lý tài sản bảo đảm và định giá nợ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới chủ yếu trên 3 phương diện:

  • Về mặt học thuật và lý luận:

    • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về QLNN của NHTW đối với nợ xấu của hệ thống NHTM, bao gồm khái niệm, mục tiêu, công cụ, phương pháp và 4 nội dung can thiệp chủ yếu.
    • Xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết và hệ thống thang đo đánh giá tác động của 4 nội dung QLNN (môi trường pháp lý; tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát; xử lý vi phạm) đến hiệu quả QLNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM.
    • Vận dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp đan xen (định tính qua phỏng vấn chuyên gia và định lượng qua hồi quy bội trên mẫu khảo sát 162 đáp viên tại 35 NHTM).
  • Về mặt đánh giá thực tiễn:

    • Phân tích thực trạng triển khai QLNN đối với nợ xấu của NHNN Việt Nam giai đoạn 2010–2019 theo 4 nội dung cụ thể.
    • Đo lường mức độ tác động của các nhân tố môi trường, nhân tố từ NHNN và nhân tố từ bản thân các NHTM tới hoạt động QLNN.
    • Chỉ rõ các nút thắt thực tiễn: sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật ngân hàng và pháp luật tố tụng dân sự/thi hành án trong xử lý tài sản bảo đảm; cơ cấu thanh tra giám sát cồng kềnh; việc xử lý nợ xấu triệt để còn ở mức thấp và tỷ lệ nợ nhóm 5 có xu hướng tăng nhanh.
  • Về mặt chính sách và giải pháp:

    • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn 2030 tập trung vào hoàn thiện môi trường thể chế, nâng cao hiệu lực tổ chức thực hiện, chuyển đổi mô hình thanh tra giám sát trên cơ sở rủi ro và hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm tín dụng.
    • Đưa ra các kiến nghị liên ngành gửi Chính phủ và các cơ quan tư pháp nhằm tạo hành lang pháp lý thông suốt cho việc xử lý nợ xấu và vận hành thị trường mua bán nợ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản luận án:

  • Hạn chế về phạm vi: Khảo sát và phân tích thực trạng chỉ tập trung vào 35 NHTM Việt Nam (NHTM nhà nước và NHTM cổ phần), chưa bao quát khối chi nhánh ngân hàng nước ngoài và NHTM 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Về nội dung, nghiên cứu chỉ tập trung vào nợ xấu phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (cho vay), chưa mở rộng sang các nghĩa vụ tài chính ngoài bảng khác. Dữ liệu thực trạng dừng ở mốc thời gian năm 2019, chưa phản ánh các tác động phát sinh từ đại dịch Covid-19 đối với nợ xấu ngân hàng giai đoạn sau năm 2020.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng (bao gồm ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân); cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2020 để đánh giá tác động của bối cảnh kinh tế mới; nghiên cứu chuyên sâu việc áp dụng đầy đủ các chuẩn mực Basel II, Basel III và việc luật hóa toàn diện các quy định về xử lý nợ xấu thay thế Nghị quyết thí điểm 42/2017/QH14.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp): Cung cấp cơ sở thực tiễn và bằng chứng định lượng để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm, cơ cấu lại bộ máy thanh tra giám sát ngân hàng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý vận hành thị trường mua bán nợ tập trung thông qua VAMC.
  • Các ngân hàng thương mại Việt Nam: Cung cấp khung tham chiếu về các chỉ tiêu an toàn nợ xấu, nguyên nhân gây suy giảm chất lượng tín dụng, hỗ trợ các khối Quản trị rủi ro, Pháp chế và AMC hoàn thiện quy trình phân loại nợ, trích lập dự phòng và kiểm soát rủi ro cho vay.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, bộ thang đo khảo sát thực chứng trong lĩnh vực QLNN đối với hệ thống ngân hàng thương mại.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm nợ xấu được luận án sử dụng dựa trên cơ sở pháp lý và tiêu chí phân loại nào?
Luận án áp dụng khái niệm nợ xấu theo quy định của NHNN tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN. Theo đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn, quá hạn từ 91 đến 180 ngày), nhóm 4 (nợ nghi ngờ, quá hạn từ 181 đến 360 ngày) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn, quá hạn trên 360 ngày), được xác định dựa trên hai tiêu chí: thời gian quá hạn từ 91 ngày trở lên hoặc có lo ngại về khả năng trả nợ của khách hàng.

2. Quy mô mẫu và cơ cấu đối tượng khảo sát định lượng của luận án được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát 162 bảng hỏi hợp lệ thu thập từ tháng 01/2020 đến tháng 02/2020 tại 35 NHTM Việt Nam. Cơ cấu mẫu gồm: 72,84% nhân viên khối Quản trị rủi ro, Pháp chế, AMC; 12,35% lãnh đạo ban/khối; 11,11% Tổng Giám đốc/Phó Tổng Giám đốc; 3,70% thành viên Ban Kiểm soát. Về loại hình, 83,33% là NHTM cổ phần, 10,49% là NHTM cổ phần có trên 50% vốn nhà nước và 6,17% là NHTM nhà nước nắm giữ 100% vốn.

3. Hoạt động QLNN đối với nợ xấu NHTM được luận án phân chia thành những nội dung chủ yếu nào?
Luận án xác định 4 nội dung trọng tâm: (1) Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng; (2) Tổ chức thực hiện QLNN (quy định phân loại nợ, trích lập dự phòng, xử lý tài sản bảo đảm, cơ cấu nợ và hoạt động VAMC); (3) Kiểm tra, giám sát nợ xấu; (4) Xử lý vi phạm khi NHTM có nợ xấu vượt ngưỡng an toàn.

4. Diễn biến nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2010–2019 được ghi nhận như thế nào trong luận án?
Giai đoạn 2011–2013 nợ xấu tăng mạnh: năm 2011 chiếm 3,3% tổng dư nợ; năm 2012 lên 8,6% theo Cơ quan Giám sát ngân hàng và 13% theo Fitch Ratings; năm 2013 có thời điểm tăng 23,73% so với năm 2012. Từ cuối năm 2014, nhờ tái cơ cấu và vận hành VAMC, tỷ lệ nợ xấu giảm dần; đến năm 2019 tỷ lệ nợ xấu duy trì ở mức 3%, trong đó tỷ lệ nợ xấu nội bảng đạt 1,63%.

5. Những hạn chế lớn nhất trong công tác QLNN đối với nợ xấu tại Việt Nam được chỉ ra là gì?
Các hạn chế chính gồm: quy định và hướng dẫn tố tụng thi hành án trong giải quyết tranh chấp tài sản bảo đảm còn thiếu đồng bộ; bộ máy thanh tra giám sát NHNN nhiều tầng trung gian và nặng về kiểm tra tuân thủ quy định thay vì giám sát rủi ro; tiến độ tái cơ cấu tự nguyện tại các NHTM còn chậm; tỷ lệ nợ nhóm 5 có khả năng mất vốn có xu hướng tăng nhanh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Phú Thái đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước của ngân hàng trung ương đối với nợ xấu của hệ thống NHTM, đồng thời phân tích thực trạng quản lý của NHNN Việt Nam giai đoạn 2010–2019 qua 4 nội dung trọng tâm. Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng trên dữ liệu khảo sát 162 mẫu tại 35 NHTM, công trình đã kiểm định mô hình tác động của các hoạt động quản lý đến hiệu quả kiểm soát nợ xấu và chỉ ra những hạn chế thực tiễn trong xử lý tài sản bảo đảm, thanh tra giám sát và tái cơ cấu. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và kiến nghị hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.