phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn bao gồm các nội dung nhƣ sau: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nợ xấu của NHTM. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại 1. Những vấn đề chung về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm - Theo pháp luật Mỹ: bất kỳ tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (bằng cách ký séc hay bằng rút tiền điện tử) và cấp tín dụng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh hay cho vay thƣơng mại đƣợc xem là NH.
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (3/6/1942) định nghĩa: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới cá hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. - Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam (Luật số 47/2010/QH12) đã định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”; “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” Nhƣ vậy, từ các định nghĩa có thể thấy ngân hàng thƣơng mại là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với các nghiệp vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay. Ngoài ra NHTM còn thực hiện chức năng thanh toán và cung cấp nhiều dịch vụ khác. Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại - Chức năng trung gian tín dụng Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò là "cầu nối" giữa ngƣời dƣ thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn.
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thƣơng mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, ngân hàng thƣơng mại vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay. Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thƣơng mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác (Nguyễn Tuấn Anh, 2012). Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thƣơng mại làm trung gian thanh toán khi thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng.
Ở đây NHTM đóng vai trò là ngƣời “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là ngƣời giữ tài khoản của họ và thực hiện các lệnh thu chi của khách hàng (Nguyễn Tuấn Anh, 2012). - Chức năng tạo tiền “Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thƣơng mại. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nhƣ là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình dung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế ”(Phan Thị Thu Hà, 2013). Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên 7 tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… 1. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại - Hoạt động huy động vốn: Đây là hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để NHTM thực hiện các hoạt động khác nhƣ cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán… - Hoạt động sử dụng vốn: Hoạt động này chủ yếu gồm hai hoạt động chính là: (1) Hoạt động tín dụng, (2) Hoạt động đầu tƣ - Hoạt động dịch vụ của ngân hàng: NHTM ngoài hai hoạt động chính là huy động và đầu tƣ vốn thì còn tổ chức cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng khách nhƣ dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ mua bán ngoại tệ, dịch vụ ngân quỹ… 1. Nợ xấu của các ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm và phân loại nợ xấu a. Khái niệm Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu ở các quốc gia. Trong nền kinh tế, tùy thuộc vào mục đích khác nhau của các chủ thể kinh tế thì quan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt. - Quan điểm về nợ xấu của ECB: “Nợ xấu là những khoản vay không có khả năng thu hồi hoặc những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho NH”.
- Quan điểm của IMF: “Nợ xấu là những khoản nợ có lãi hoặc/ và gốc quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày, các khoản lãi quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày đƣợc vốn hóa, tài trợ hoặc hoãn trả theo thỏa thuận hoặc quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có các dấu hiệu khác cho thấy ngƣời vay không có khả năng thanh toán đầy đủ về gốc và lãi” (IMF, 2005) - Nhóm chuyên gia tƣ vấn (AEG) của Liên Hợp quốc cho rằng định nghĩa nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên đƣợc sử dụng nhƣ hƣớng dẫn cho các NH (AEG, 2004). AEG thống nhất định nghĩa “Về cơ bản một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã thanh toán dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc 8 chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ”. Nói cách khác, nợ xấu đƣợc xác định dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày; và (ii) nghi ngờ về khả năng trả nợ. - Uỷ ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) mặc dù không đƣa ra một định nghĩa cụ thể về nợ xấu nhƣng trong các hƣớng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ) (ii) ngƣời vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.
BCBS đặc biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tƣơng lai” khi đánh giá một khoản vay. Dựa trên hƣớng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu ngƣời đi vay không trả đƣợc nợ (Basel, 2005). - Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu đƣợc đề cập trong điều 10, điều 11, Thông tƣ số 02/2013/ TT- NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN Việt Nam Quy định việc phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài (từ đây gọi tắt là Thông tƣ 02). Cụ thể: “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 bao gồm nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn qui định tại Điều 10 của Thông tƣ 02.
Tại Điều 10, các tổ chức tín dụng đƣợc yêu cầu phân loại nợ theo phƣơng pháp định lƣợng, trong đó các khoản nợ xấu nhóm 3, nhóm 4, và nhóm 5 là các khoản nợ xấu: + Nợ nhóm 3 (nợ dƣới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ đƣợc miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ thuộc một trong các trƣờng hợp khác theo quy định và (v) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra. + Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dƣới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đƣợc cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;(iv) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ 9 ngày có quyết định thu hồi; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhƣng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chƣa thu hồi đƣợc;(vi) Nợ đƣợc phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.