CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng thương mại. Khái niệm về Ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại qua hàng trăm năm và gắn liền với đó là sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013) cho rằng NHTM chuyên cung cấp những khoản cho vay thương mại, tài khoản vãng lại và các phương tiện thanh toán, tham gia vào thị trường liên ngân hàng với tư cách đi vay và cho vay. Về khái niệm NHTM, các quốc gia và nhà kinh tế học trên thế giới hiện đang có cách định nghĩa khác nhau về khái niệm này: - Theo nhà kinh tế học Frederic S. Mishkin (2006): “NHTM là một trung gian tài chính, họ sẽ nhận tiền gửi từ các tổ chức và cá nhân và cho vay các đối tượng khác. NHTM thu hút các nguồn vốn bằng cách phát hành tiền gửi có thể phát hành dưới dạng tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm hoặc một số dạng tiền gửi NH khác; sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay với mục đích thương mại, tiêu dùng, thế chấp hay để mua các chứng khoán chứng phủ, các trái khoán của chính quyền địa phương”.
- NHTM là tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất như tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán (Peter S. - Tại Việt Nam, theo Luật các TCTD năm 2010 thì “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định trong Luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó “Hoạt động NH là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Như vậy, NHTM là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nhằm tại ra lợi nhuận; huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế, sau đó cho vay với các cá nhân hay tổ chức để phát triển 9 kinh tế, tiêu dùng cho xã hội.
Hoạt động kinh doanh của NHTM rất đa dạng và không ngừng thay đổi theo xu hướng của nền kinh tế, nhưng về cơ bản sẽ gồm ba hoạt động sau: huy động vốn, cấp tín dụng và các dịch vụ tài chính khác. Trong đó, cấp tín dụng là kênh tạo ra lợi nhuận lớn và đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của NHTM. Khái niệm về cấp tín dụng. Nhằm bắt kịp xu thế phát triển của kinh tế thị trường cũng như đảm bảo đáp ứng được nhu cầu của KH, tăng khả năng cạnh tranh mà các NHTM luôn vận động, nghiên cứu đưa ra các sản phẩm kinh doanh khác nhau, nhưng về cơ bản sẽ bao gồm ba hoạt động chính: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Việc quy định rõ từng hoạt động cấp tín dụng trở nên cần thiết và được thực hiện một cách khoa học để xây dựng các quy trình phù hợp nhất. Căn cứ Khoản 14 Điều 4 của Luật các TCTD 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”: - Cho vay: là hình thức cấp tín dụng mà NH giao hoặc cam kết giao cho KH một khoản tiền để sử dụng với mục đích nhất định và trong khoản thời gian xác định, với nguyên tắc KH hoàn trả gốc và lãi cho NH. - Chiết khấu: là hình thức cấp tín dụng thông qua việc NH mua lại có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đáo hạn. - Cho thuê tài chính: là hình thức cấp tín dụng bằng tài trợ vốn trung dài hạn thông qua các hợp đồng cho thuê tài sản, bên thuê có quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của bên cho thuê và có trách nhiệm thanh toán lại tiền thuê (gốc và phí) trong suốt thời gian thuê theo giao kết trong hợp đồng.
- Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp 10 đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. - Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dung mà theo đó NH (bên bảo lãnh) cam kết với bên thứ ba (bên nhận bảo lãnh) về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho KH (bên được bảo lãnh) khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, bên được bảo lãnh phải nhận nợ bắt buộc và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận giữa các bên. Trong cấp tín dụng, nhất là hoạt động cho vay, NHTM phải đánh giá, theo dõi, giám sát việc KH sử dụng vốn vay và việc thanh toán gốc và lãi đầy đủ, kịp thời cho NH. Tuy nhiên, vì các lý do khách quan hay chủ quan mà KH chậm thanh toán nợ hoặc không trả nợ; nói một cách khác là người đi vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn cho người cho vay.
Dẫn đến phát sinh rủi ro tín dụng cho các NHTM, rủi ro tín dụng (credit risk) là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng là loại rủi ro gắn liền với hoạt động cấp tín dụng của NH, khi người đi vay chậm trả nợ hoặc không thanh toán nợ cho chủ nợ. Khái niệm về nợ xấu. Các quốc gia và tổ chức trên thế giới vẫn chưa thống nhất được khái niệm chung về nợ xấu và phương thức xác định nợ xấu.
Dựa vào sự phát triển của nền kinh tế, chuẩn mực kế toán mà nhận thức về nợ xấu khác nhau. Nhưng về nguyên tắc, khi một khoản tín dụng không thể thu hồi được và phải xử lý bằng tài sản bên đi vay hay trích lập dự phòng của bên cho vay, được gọi là nợ xấu. Theo quan niệm Quốc tế. - Trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF’s Compilation Guide on Finacial Soundness Indicators, 2004) cho rằng: “Một khoản nợ được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi quá hạn trả gốc và lãi trên 90 ngày, hoặc khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được 11 nhập gốc, tái cấp vốn hoặc đồng ý chậm trả theo thoả thuận; hay các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ”.
- Còn với Ngân hàng Trung ương Châu Âu (2006) xác định nợ xấu tại các NHTM bao gồm: (1) Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ; (2) Những khoản nợ mà người mắc nợ bỏ trốn hoặc mất tích, NH không thể liên lạc hoặc không tìm được người mắc nợ, không còn tài sản để thanh toán nợ; (3) Những khoản nợ mà người mắc nợ chất dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản nhưng không đủ để trả nợ; (4) Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng không thể đền bù phần còn lại theo thỏa thuận; (5) Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp tại NH không đủ điều kiện pháp lý để thanh toán nợ; (6) Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản, đã rao bán tài sản nhưng không nợ trả nợ. Theo quan điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Căn cứ theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 có quy định về nợ xấu như sau: “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”. Các nhóm nợ được phân loại tại Điều 10 và Điều 11 của Thông tư này như sau: - Tại Điều 10 chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ: Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) quá hạn trên 360 ngày.
- Và tại Điều 11 nợ xấu được phân loại dựa trên khả năng trả nợ của KH: Nợ nhóm 3 là các khoản nợ được TCTD, chi nhánh NH nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất; Nợ nhóm 4 là các khoản nợ được TCTD, chi nhánh NH nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao; Nợ nhóm 5 là các khoản nợ được TCTD, chi nhánh NH nước ngoài đánh giá không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Tóm lại, nợ xấu là một khái niệm tương đối phức tạp, khi nói về nợ xấu theo định nghĩa của Việt Nam hay thông lệ quốc tế, có thể nhận thấy sự tương đồng về hai yếu 12 tố chính: nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên và khả năng (hay thiện chí) trả nợ của KH. Tiêu chí và hình thức phân loại nợ. Theo quan điểm trên Thế giới.
- Việc phân loại nợ là quá trình các NH xem xét lại danh mục các khoản nợ và phân chia chúng thành các mục tiêu, với các mức độ khác nhau dựa trên mức độ rủi ro gặp phải hoặc các đặc điểm liên quan khác của khoản nợ đó. Quá trình liên tục xem xét và phân loại nợ sẽ giúp cho các NHTM chất lượng danh mục của các khoản nợ và có phương án xử lý kịp thời khi các khoản nợ rơi vào tình huống xấu nhất, như việc sử dụng trích lập dự phòng. Theo Laurin và cộng sự (2002), đối với việc phân loại nợ theo chuẩn mực kế toán quốc tế không có tiêu chuẩn đánh giá cụ thể và việc phân loại nợ phụ thuộc vào người trực tiếp đưa ra đánh giá, lập báo cáo.