phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Quân đội Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Quân đội. 5 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Nợ xấu và tác động của nó đến kinh doanh ngân hàng 1.1 Khái niệm nợ xấu Các tài liệu tài chính ngân hàng của thế giới sử dụng phổ biến các thuật ngữ nợ xấu (bad debt , nợ quá hạn (non-performing loan , nợ c vấn đề (doubtful debd để chỉ các khoản nợ mà người đi vay ít c khả năng trả lại cho chủ nợ, và do đ giá trị kỳ vọng thu hồi thấp hơn so với khoản nợ gốc ban đầu Tuy nhiên trên thực tế, không c chuẩn toàn cầu về định nghĩa nợ xấu/ nợ quá hạn/ nợ c vấn đề Theo định nghĩa của Ngân hàng trung ương Châu Âu (EBC, https://www.eu/explainers/tell-me/html/npl.html, truy cập ngày 15/02/2018): “Một khoản nợ vay ngân hàng được coi là nợ quá hạn (non – performing loan) khi chậm thanh toán nợ gốc đến hạn hoặc lãi vay trên 90 ngày Nợ quá hạn c ng được gọi là nợ xấu (bad dept ” Theo định nghĩa của EBC, các khoản nợ xấu được xác định bởi một yếu tố duy nhất là kết quả trả nợ của khách hàng với ngân hàng Các khoản nợ được xác định nợ n xấu khi chậm thanh toán gốc đến hạn hoặc lãi vay trên 90 ngày. Theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, https://www.org/external/pubs/ft/bop/2005/05-29.pdf, truy cập ngày 15/02/2018): “Một khoản cho vay được coi là nợ xấu khi: (i) Quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi từ 90 ngày trở lên; (ii) Hoặc các khoản thanh toán lãi suất đã quá hạn đúng 90 ngày hoặc hơn đã được vốn h a, cơ cấu lại, hoặc gia hạn theo thỏa thuận; (iii) Hoặc các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng c thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ. Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào c ng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đ hoặc thu hồi được khoản vay thay thế” Theo quan điểm của IMF, các khoản nợ xấu được xác định bởi 02 yếu tố: (i) Kết quả trả nợ của khách hàng với ngân hàng; (ii) Khả năng trả nợ của khách hàng Đối với các trường hợp khả năng trả nợ của khách hàng có các dấu hiệu rõ ràng về việc không thể hoàn trả 6 nợ đầy đủ (ví dụ: người vay bị phá sản/ mất năng lực hành vi dân sự) thì khoản vay c ng được xác định là nợ xấu ngay từ khi chưa đến hạn thanh toán.
Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định các khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ nếu ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi nợ; (ii Người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày (Nguồn: Basel Committee on Banking Supervision, Prudential treatment of problem assets – definitions of non-performing exposures and forbearance Issued, 2016). Từ các định nghĩa trên c thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các tổ chức tài chính trên thế giới Theo đ , một khoản nợ được coi là nợ xấu khi nó xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá hạn nợ gốc và lãi hoặc khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng xác định là không có khả năng trả nợ. Trong sách Tín dụng Ngân hàng do tiến sỹ Hồ Diệu chủ biên – Nhà xuất bản Thống kê, xuất bản năm 2001 đã đề cập đến một số đặc trưng của các khoản nợ xấu Theo đ , nợ xấu (hay các tên gọi khác của chúng như nợ c vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ kh đòi, nợ không thể đòi… là những khoản nợ mang đặc trưng: (i Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết đã đến hạn Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày ; (ii) Tình hình tài chính của khách hàng đã và đang c chiều hướng xấu dẫn tới c khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn và lãi ; (iii Tài sản đảm bảo (thế chấp, bảo lãnh, cầm cố được đánh giá là có giá trị phát mại không đủ trang trải nợ gốc và lãi (nguồn : Hồ Diệu, Tín dụng Ngân hàng, nhà xuất bản Thống kê, 2001 Ngoài khái niệm nợ xấu, trong thực tế hoạt động quản lý nợ, các TCTD tại Việt Nam hiện nay c ng sử dụng phổ biến khái niệm nợ c vấn đề Theo sổ tay tín dụng của Ngân hàng TMCP Quân Đội, phát hành tháng 9 năm 2004 thì nợ c vấn đề được xác định như sau:"Nợ có vấn đề là các khoản tín dụng cấp cho khách hàng không thu hồi được hoặc có dấu hiệu có thể không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nợ có vấn đề được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ những 7 khoản vay đã quá hạn thanh toán, thanh toán không đúng kỳ hạn (nợ quá hạn thông thường, nợ khó đòi, nợ chờ xử lý, nợ khoanh, nợ tồn đọng) mà bao gồm cả những khoản vay trong hạn nhưng có những dấu hiệu không an toàn có thể dẫn tới rủi ro" (Nguồn : Ngân hàng TMCP Quân Đội, Sổ tay tín dụng, 2004, T24 1.2 Phân loại nợ xấu.
Phân loại nợ vay ngân hàng (Bank loan classification hay phân loại tín dụng là việc xem xét, đánh giá chất lượng các khoản cho vay (tín dụng và sắp xếp vào các nh m khác nhau dựa trên đặc điểm rủi ro và n i chung là chất lượng của khoản vay đ Việc phân loại nợ sẽ giúp ngân hàng c thể kiểm soát được chất lượng danh mục cho vay và trong trường hợp cần thiết sẽ c các biện pháp xử lý để ngăn chặn sự suy giảm của chất lượng của các khoản vay, giảm thiểu tác động tiêu cực Phân loại nợ sẽ ảnh hưởng đến việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và lợi nhuận của ngân hàng Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là phương pháp các ngân hàng sử dụng để ghi nhận tổn thất so với giá trị ghi nhận ban đầu của khoản vay Việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận, đồng thời làm giảm nghĩa vụ thuế của ngân hàng Tại Việt Nam, việc phân loại nợ của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước và có sửa đổi trong quyết định 18/2007/ QĐ – NHNN ngày 25/04/2007. Quyết định 493 phân loại nợ thành năm nh m theo phương pháp định lượng và định tính. Điều 6 của Quyết định 493 phân loại nợ thành năm nh m theo phương pháp định lượng. Một điểm dáng lưu ý là cho d c tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể để phân loại nợ thành 05 nh m nhưng tổ chức tín dụng vẫn có quyền chủ động tự quyết định phân loại bất kỳ khoản nợ nào vào các nhóm nợ có rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro nếu đánh khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm.
Điều 7 của Quyết định 493 cho phép các tổ chức tín dụng c đủ khả năng và điều kiện được thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo phương 8 pháp định tính Theo phương pháp này, nợ c ng được phân thành 05 nh m tương tự như cách phân loại định lượng trong Điều 6, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số `ngày quá hạn chưa thanh toán nợ, mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng được ngân hàng nhà nước chấp nhận. Chi tiết hai phương pháp phân loại nợ theo Quyết định 493 như sau: Nhóm nợ Phƣơng pháp định Phƣơng pháp định tính Tỷ lệ trích lƣợng lập dự ph ng cụ thể đối với các nhóm nợ Các khoản nợ trong hạn Các khoản nợ được các tổ 0% 1 – Nợ đủ mà tổ chức tín dụng đánh chức tín dụng đánh giá là tiêu chuẩn giá c đủ khả năng thu c khả năng thu hồi đầy đủ (Current) hồi đầy đủ cả gốc và lãi cả nợ gốc và lại đúng hạn đúng thời hạn Các khoản nợ quá hạn Các khoản nợ được tổ 5% 2 – Nợ cần dưới 90 ngày. chức tín dụng đánh giá là chú ý Các khoản nợ cơ cấu lại c khả năng thu hồi đầy đủ (Special thời hạn trả nợ trong hạn cả gốc và lãi nhưng c dấu mentioned) theo thời hạn nợ đã cơ hiệu khách hàng suy giảm cấu lại. khả năng trả nợ Các khoản nợ được tổ 20% Các khoản nợ quá hạn từ chức tín dụng đánh giá là 3 – Nợ 90 đến 180 ngày không c khả năng thu hồi dưới tiêu Các khoản nợ cơ cấu lại nợ gốc và lãi khi đến hạn chuẩn thời hạn trả nợ quá hạn Các khoản nợ này được tổ (Sub- dưới 90 ngày theo thời chức tín dụng đánh giá là standard) hạn đã cơ cấu lại c khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi Các khoản nợ quá hạn từ Các khoản nợ được tổ 50% 181 đến 360 ngày.
chức tín dụng đánh giá là 4 – Nợ Các khoản nợ cơ cấu lại khả năng tổn thất cao. nghi ngờ thời hạn trả nợ quá hạn từ (Doubtful) 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Các khoản nợ quá hạn Các khoản nợ được tổ 100% 5 – Nợ c trên 360 ngày. chức tín dụng đánh giá là khả năng Các khoản nợ khoanh không có khả năng thu hồi, mất vốn chờ Chính phủ xử lý.
(Bad) Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá 9 hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại.