phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những nội dung cơ bản về nợ xấu và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan nợ xấu Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm nợ xấu tại ngân hàng thương mại Hiện nay chƣa có một định nghĩa chung về nợ xấu. Mỗi một ngân hàng trung ƣơng và các tổ chức quốc tế có cách xác định khác nhau về khái niệm nợ xấu, tùy theo cách tiếp cận và hình thức biểu hiện của các khoản nợ. Theo cách tiếp cận dựa trên tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ, Ngân hàng thế giới (WB) đã đƣa ra khái niệm về nợ xấu là các khoản nợ dƣới chuẩn, có thể bị quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ.
Điều này thƣờng xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Theo cách tiếp cận này, các khoản nợ đƣợc coi là dƣới chuẩn bao gồm các khoản nợ đã đƣợc thỏa thuận lại hoặc bị quá hạn từ 90 đến 180 ngày; Các khoản nợ bị nghi ngờ khi không chắc chắn thu hồi đƣợc toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng, có khả năng thất thoát và đã quá hạn từ 180 đến 360 ngày. Nợ xấu là những khoản nợ có lãi hoặc và gốc quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày, các khoản lãi quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày đƣợc vốn hóa, tái tài trợ hoặc hoãn trả nợ theo thỏa thuận, hoặc quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có các dấu hiệu khác cho thấy ngƣời vay không có khả năng thanh toán đầy đủ về gốc và lãi (Phan Thị Thu Hà, 2013). Việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi, ví dụ giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ) (ii) ngƣời vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.
Theo Thông tƣ 11 2021 TT-NHNN ban hành ngày 30/07/2021 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam của Thống đốc NHNN Việt Nam, nợ xấu đƣợc định nghĩa nhƣ sau: ―Nợ xấu là những khoản nợ thuộc các Nhóm: nhóm 3 (nợ dƣới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)‖ (NHNN, 2021). 8 Trong phạm vi luận văn này, tác giả đƣa ra khái niệm nợ xấu nhƣ sau: ―nợ xấu là những khoản vay mà người đi vay không có khả năng hoặc không muốn hoàn trả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn như đã thỏa thuận trước cho tổ chức tín dụng". Tác động của nợ xấu tại ngân hàng thương mại - Nợ xấu tác động không tốt đến bản thân NHTM Thứ nhất, nợ xấu ảnh hƣởng xấu đến nguồn vốn của Ngân hàng: Nợ xấu làm cho nguồn vốn của NHTM bị đóng băng và có thể làm mất vốn. Các khoản nợ xấu phát sinh dẫn đến ngân hàng không thu đƣợc gốc và lãi đúng hạn, vòng quay vốn tín dụng chậm, giảm tốc độ chu chuyển vốn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, thậm chí mất vốn, giảm doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng.
Nếu các khoản nợ xấu vƣợt quá khả năng bù đắp của ngân hàng sẽ dẫn đến phá sản ngân hàng và kéo theo sự sụp đổ dây chuyền của cả hệ thống ngân hàng trong nƣớc. Thứ hai, nợ xấu ảnh hƣởng xấu đến khả năng thanh toán của ngân hàng: Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi và cho vay. Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn, không thu hồi đƣợc hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho vay. Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ và đúng hạn đối với các khoản tiền huy động.
Sự mất cân đối trên đến một mức nào đó tất yếu sẽ dẫn tới NHTM mất khả năng thanh toán các khoản đến hạn. Thứ ba, nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng: Một NHTM có tỷ lệ nợ xấu cao tức là mức độ rủi ro của các tài sản có cao thì ngân hàng đó thƣờng đứng trƣớc nguy cơ đánh mất uy tín của mình trên thị trƣờng. Không một khách hàng nào muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu vƣợt quá mức cho phép, có chất lƣợng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất thoát lớn. Thông tin về việc một ngân hàng có mức độ rủi ro cao, khả năng thanh toán suy giảm thƣờng đƣợc báo chí nêu lên và lan truyền trong dân chúng, điều này khiến cho uy tín của ngân hàng trên thị trƣờng bị giảm mạnh gây nên sự bất lợi trong hoạt động cạnh tranh với các ngân hàng khác.
Thứ tư, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Nợ xấu làm cho doanh 9 thu của NHTM thấp (do không thu đƣợc lãi vay), dẫn đến lợi nhuận thu đƣợc thấp (nằm ngoài dự kiến), thậm chí là lỗ. Hơn nữa kể cả trƣờng hợp không lỗ thì do nợ xấu phát sinh, các khoản chi phí cũng tăng lên đáng kể: nó bao gồm chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí quản lý nợ xấu, chi phí trích lập DPRR và các chi phí khác liên quan. Việc gia tăng các khoản chi phí khiến cho lợi nhuận còn lại cũng trở nên thấp hơn so với dự tính ban đầu. Thứ năm, nợ xấu có thể là nguyên nhân làm phá sản ngân hàng: Với một NHTM có tỷ lệ nợ xấu tăng cao, kéo dài và không có biện pháp xử lý triệt để tất yếu dẫn đến lợi nhuận giảm, khả năng thanh toán bị suy giảm, uy tín bị mất dần trên thị trƣờng, các khách hàng sẽ không còn tin tƣởng vào ngân hàng đó và đổ xô đến ngân hàng để rút tiền gửi.
Khi đó, với khả năng thanh toán thấp, ngân hàng không đáp ứng đƣợc nhu cầu rút tiền của khách hàng và sẽ đi đến phá sản. Thứ sáu: nợ xấu làm giảm khả năng hội nhập: Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế nhƣ hiện nay, các NHTM đang đứng trƣớc các cơ hội và thách thức khi hội nhập quốc tế. Yêu cầu đòi hỏi đầu tiên khi tham gia hội nhập quốc tế là tính minh bạch trong thông tin công bố và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, với tỷ lệ nợ xấu cao, vƣợt quá chuẩn mực cho phép, các ngân hàng sẽ rất khó chiếm đƣợc lòng tin của các khách hàng và bạn hàng trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế và tự mình đánh mất cơ hội tham gia thị trƣờng tài chính tiền tệ quốc tế (Phan Thị Thu Hà, 2013).
- Tác động không tốt của nợ xấu đối với nền kinh tế NHTM là doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, do đó, nợ xấu của NHTM ảnh hƣởng rất lớn đến nền kinh tế. Tác động của nợ xấu đối với nền kinh tế là tác động gián tiếp thông qua mối quan hệ hữu cơ: ngân hàng - khách hàng - nền kinh tế. Qua đó, nợ xấu ảnh hƣởng tới hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng sẽ ảnh hƣởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Khả năng khai thác, đáp ứng vốn và khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế sẽ bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh.
Nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ cả nền kinh tế, tác động tới sự tăng trƣởng và phát triển 10 nền kinh tế do vốn ứ đọng, sản xuất, kinh doanh bị đình trệ. Định nghĩa một cách ví von thì nợ xấu là ―cục máu đông‖ của nền kinh tế. Nợ xấu sẽ làm gia tăng sức ép lên tình trạng lạm phát, kìm hãm hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mối nguy lớn nhất là nếu nợ xấu với dòng tín dụng lớn thì có thể dẫn đến khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.
Ở mức độ thấp, rủi ro tín dụng khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hƣởng xấu đến khả năng tăng trƣởng của nền kinh tế. Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hƣởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nƣớc (Phan Thị Thu Hà, 2013). Nguyên nhân phát sinh nợ xấu Có nhiều nguyên nhân làm phát sinh nợ xấu của NHTM, tuy nhiên có thể phân thành 2 nhóm với một số nguyên nhân chủ yếu nhƣ sau: * Nguyên nhân khách quan - Môi trƣờng chính trị - kinh tế: Điều kiện chính trị - kinh tế của khu vực mà ngân hàng phục vụ có ảnh hƣởng lớn tới chất lƣợng tín dụng của ngân hàng. Một nền chính trị - kinh tế ổn định và tăng trƣởng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản tín dụng có chất lƣợng cao.
Còn nếu môi trƣờng chính trị - kinh tế bất ổn, chƣa thực sự phát triển, cạnh tranh trên thị trƣờng chƣa thực sự bình đẳng, tốc độ cũng nhƣ trình độ phát triển chƣa cao sẽ dẫn đến việc các cá nhân và tổ chức cũng nhƣ các doanh nghiệp không hoạt động ổn định, hiệu quả dẫn đến không có tiềm lực tài chính đủ mạnh và không có khả năng trả nợ vay. - Môi trƣờng tự nhiên: Bản thân mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ đều chịu tác động của các yếu tố tự nhiên. Các thảm họa thiên nhiên, hỏa hoạn, dịch bệnh, bão lũ. gây ra vô vàn những khó khăn cho các hộ sản xuất, doanh nghiệp.
Đặc biệt là đối với các hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Thiên tai xảy ra, khách hàng vay bị thiệt hại, nguồn thu 11 bị giảm sút nên không hoàn thành đƣợc nghĩa vụ trả nợ nhƣ đã cam kết, dẫn đến nợ xấu phát sinh.