Chương 1: Những lý luận cơ bản về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu Chương 3: Giải pháp hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về nợ xấu tại NHTM 1.1 Khái niệm về nợ xấu Thuật ngữ “nợ xấu” (Non-performing loan) thường được viết tắt là NPL. Thuật ngữ này còn được thay thế bằng nợ khó đòi (doubtful debt) theo Fofack (2005) hoặc khoản vay có vấn đề (problem loan) theo Berger và DeYoung (1997). Nhìn chung nợ xấu có thể được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Nợ xấu cũng được xem như là một khoản nợ không trả được (defaulted loan) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst & Young, 2004).
Nợ xấu cũng được định nghĩa như là các khoản vay trễ hạn 90 ngày hoặc hơn trong việc thanh toán các khoản lãi hoặc vốn (Bexley và Nenninger, 2012). Trong khi đó, theo Caprio và Klingebiel (1996), nợ xấu là những khoản cho vay trong một thời gian tương đối dài không tạo ra thu nhập mà vốn gốc hay lãi vay của các khoản vay này chưa được thanh toán ít nhất là 90 ngày. Bên cạnh các khái niệm của các nhà nghiên cứu, các định chế tài chính cũng đưa ra các khái niệm về nợ xấu như sau: Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý RRTD, BCBS xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervision, 2002).
Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi 5 nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được.
Khái niệm nợ xấu của nhóm chuyên gia tƣ vấn AEG của Liên Hợp Quốc Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng (AEG, 2004). AEG thống nhất định nghĩa “về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Nói cách khác, nợ xấu được xác định trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày; và (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Khái niệm nợ xấu của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) Theo hướng dẫn tính tóan các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản).
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế”. Khái niệm nợ xấu tại Việt Nam Tại Việt Nam, các khoản nợ của các TCTD được phân loại thành 5 nhóm theo thứ tự từ nhóm 1 đến nhóm 5 và từ nhóm 3 trở lên được xác định là nhóm nợ “dưới tiêu chuẩn” tương đương với việc thể hiện tính chất “khó đòi”. 6 Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 "Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD" thì nợ xấu được định nghĩa như sau: "Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Nợ xấu được xác định theo 2 phương pháp: (i) phương pháp định lượng dựa vào tính chất quá hạn của khoản nợ và (ii) phương pháp định tính căn cứ theo khả năng trả nợ đáng lo ngại".
Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” ban hành thay thế quyết định số 493, có hiệu lực từ 01/06/2014 thì nợ xấu vẫn là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Xét về bản chất, nợ xấu ngân hàng là do khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay không hiệu quả, nó thường phát sinh sau một chu kỳ vay vốn, thậm chí sau một thời gian dài. Do đó nợ xấu là vấn đề tồn tại từ lâu trong hoạt động của các TCTD.2 Phân loại nợ xấu Ở Việt Nam, việc phân loại nợ xấu tương đối đơn giản. Chuẩn mực quan trọng nhất trong việc phân loại nợ ở Việt Nam chủ yếu là dựa vào thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng lo ngại.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 "Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD" và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định số 493 thì nợ được phân thành 5 nhóm như sau: Phƣơng pháp phân loại nợ định lƣợng Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu. 7 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý. Phƣơng pháp phân loại nợ định tính TCTD phân loại nợ theo phương pháp định tính căn cứ vào hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của TCTD đó. Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao. 8 Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Theo quy định của NHNN Việt Nam thì nợ xấu là nợ nhóm 3, 4, 5 được quy định như trên. Tuy nhiên, Quyết định số 493 và Quyết định số 18 chưa phản ánh được đầy đủ chất lượng tín dụng của các TCTD cũng như là còn khá xa so với tiêu chuẩn an toàn quốc tế nên không phản ánh đủ sức khỏe mà cụ thể là nợ xấu của ngân hàng. Do đó, NHNN đã ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN "Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài" với hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/2014 và được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 09/2013/TT-NHNN để khắc phục những mặt hạn chế còn tồn tại ở Quyết định số 493. NHNN đã thể hiện quyết tâm trong việc công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng cung cấp thông tin để có được sự thống nhất trong báo cáo nợ xấu và phản ánh chính xác thực trạng về nợ xấu.