CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỂ QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tài liệu và khoảng trống nghiên cứu 1. Tổng quan tài liệu Thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, các giải pháp xử lý nợ xấu tại các NHTM và cụ thể tại các chi nhánh Vietcombank trên toàn quốc. Về hoạt động quản trị, quản lý nợ xấu trong các ngân hàng thương mại, trong nghiên cứu của tác giả Hà Thị Hồng Nhung (2011) “Quản trị nợ xấu trong Ngân hàng thương mại, thực trạng và giải pháp trong Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam” và nghiên cứu của Đỗ Thanh Hải (2011), các tác giả đã nghiên cứu hoạt động quản trị nợ xấu tại các NHTM Việt Nam nói chung, đánh giá thực trạng cụ thể quản trị nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2010 và chi nhánh tại Hải Phòng trong giai đoạn 2006-2010.
Một số giải pháp được các tác giả này đề xuất cho vấn đề quản lý nợ xấu bao gồm: nâng cao chất lượng thẩm định, nâng cao năng lực tài chính, tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ, ban hành quy chế giao khoán, thường xuyên phân loại, phân tích nợ xấu, nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Tuy vậy, những giải pháp quan trọng như áp dụng chuẩn mực kiểm toán quốc tế, giải pháp ứng phó với tỷ giá hiệu quả nhằm làm hạn chế nợ xấu lại chưa được tác giả nghiên cứu này đề cập. Đề cập đến vấn đề quản lý nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) trong một nghiên cứu với tiêu đề “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại Việt Nam” đã có cách tiếp cận mới so với 2 tác giả trước. Tác giả Hoài Phương đã tiếp cận việc quản lý nợ xấu ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế, cụ thể là sử dụng hiệp ước Basel II như một chuẩn mực trong tiếp cận, so sánh đánh giá hoạt động quản lý nợ xấu trên phạm vi hệ thống NHTM.
Thành công của tác giả Hoài Phương là đã nghiên cứu được cách 7 nhận biết, đo lường, xây dựng giới hạn tỷ lệ nợ xấu áp dụng cho từng ngân hàng, việc tiếp cận cách tính trích lập dự phòng theo tiêu chuẩn quốc tế và đã đưa ra mô hình quản lý rủi ro tín dụng cụ thể. Cùng có cách tiếp cận nghiên cứu quản lý nợ xấu ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế, cụ thể là sử dụng hiệp ước Basel II về giám sát Ngân hàng như một chuẩn mực trong tiếp cận, một số nghiên cứu của các tác giả khác như Nguyễn Đức Cường (2006), Nguyễn Đào Tố (2008) đã phân tích và khẳng định sự cần thiết phải ứng dụng những nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu, từ đó xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng đối với các NHTM Việt Nam. Cũng sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thị Thu Đông (2012) trong nghiên cứu có tên “Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam trong quá trình hội nhập”, đã phản ánh thực trạng chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam trong điều kiện hội nhập. Một bước tiến trong kết quả nghiên cứu của tác giả Thu Đông so với các nghiên cứu trước đó là: tác giả đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp theo mô hình hồi quy logistic để kiểm định mô hình và giả thiết nghiên cứu.
trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng và kết quả mô hình hồi quy về các yếu tố ảnh hưởng, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại tại các NHTM CP Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Một nội dung rất quan trọng khác của hoạt động quản lý nợ xấu đó là xử lý nợ xấu. Về vấn đề này, đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả thảo luận và công bố kết quả nghiên cứu. Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2012) “Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Vietcombank chi nhánh tỉnh Gia Lai”, qua đánh giá thực tiễn tình hình nợ xấu giai đoạn 2009-2011 tại Vietcombank chi nhánh tỉnh Gia Lai, tác giả đã chỉ ra được các nguyên nhân gây ra nợ xấu, những bất cập, hạn chế trong các biện pháp xử lý nợ xấu từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại địa bàn nghiên cứu.
Trong nghiên cứu “ Giải pháp xử lý nợ xấu hiện nay của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của Phạm Quốc Khánh (2013) và nghiên cứu “Xử lý nợ xấu trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam” của Hà Thị Sáu (2013), 8 các tác giả đã đưa ra một số giải pháp để xử lý nợ xấu trong bối cảnh tái cấu trúc các NHTM tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào hai vấn đề: lựa chọn nhóm nợ xấu xử lý trong ngắn hạn và xử lý nợ xấu thông qua mua bán nợ. Về kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới về vấn đề quản lý nợ xấu tại các NHTM, nghiên cứu Tô Ngọc Hưng với nhan đề “ Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” và nghiên cứu của Đào Thị Hồ Hương với nhan đề “ Bàn về hướng xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, các tác giả đã thành công trong việc nghiên cứu kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nước đã xử lý thành công lượng lớn nợ xấu, thoát khỏi khủng hoảng như Hàn Quốc, Hungari, Trung Quốc rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất giải pháp xử lý nợ xấu cho Việt Nam. Khoảng trống nghiên cứu Nhìn chung, các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn mà tác giả đã tiếp cận, các tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nợ xấu tại các NHTM, nghiên cứu cụ thể thực trạng quản lý nợ xấu, chất lượng tín dụng tại các NHTM trong nước với quy mô, đặc điểm hoạt động khác nhau. Trên cơ sở kinh nghiệm quản lý nợ xấu các nước trên thế giới, các nghiên cứu đã rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường, hoàn thiện hoạt động quản lý nợ xấu của hệ thống Ngân hàng và tại các chi nhánh NHTM.
Theo kết quả tổng quan, hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung khai thác hoạt động quản lý nợ xấu từ góc độ tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hoặc quản trị kinh doanh, chưa nghiên cứu từ góc độ quản lý Nhà nước đối với nợ xấu của các NHTM. Bởi vậy, tiếp cận vấn đề quản lý nợ xấu theo các nội dung vận dụng chính sách của Ngân hàng Nhà nước là một đóng góp mới của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đây. Lý luận về quản lý Nhà nước đối với nợ xấu tại các NHTM 1. Khái quát về nợ xấu 1.
Khái niệm Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nợ xấu. Quan điểm về nợ xấu 9 khác nhau ở các quốc gia và trong một nền kinh tế dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thì quan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt. Nếu đứng dưới góc nhìn của các NHTM thì nợ xấu có thể hiểu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản cho vay không còn hoạt động. Những khoản cho vay trở nên không sinh lời khi người vay dừng việc thanh toán và khoản cho vay này bắt đầu bị vỡ nợ.
(*) Theo quan điểm của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB): +) Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: - Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ. - Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ. - Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ. - Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
+) Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng. Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thế chấp không đủ để trả nợ. Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được. Những khoản nợ loại này gồm có: - Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ nợ.
- Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thoả thuận. - Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ Ngân hàng đầy đủ. - Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. 10 (*) Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), định nghĩa về nợ xấu đã được IMF đưa ra như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ".
Như vậy, về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày hoặc (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004).