LỜI MỞ ĐẦU Ngân hàng là một trung gian tài chính quan trọng, có thé coi hệ thống ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế thị trường. Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi các ngân hàng nói chung cũng như các NHTM nói riêng đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trong ngành. Các NHTM cần thiết phải có chính sách phát triển bền vững tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt hướng tới tuân thủ Basel II. Một trong những thay đổi chủ yéu của Basel II là cải thiện thanh khoản ngân hang: “Tỷ lệ thanh khoản bảo đảm doi hỏi các ngân hàng phải duy trì đủ lượng tài sản có khả năng chuyền đổi sang tiền mặt trong 30 ngày vào thời kỳ khó khăn.
Tỷ lệ nguồn quỹ ổn định ròng khuyến khích các ngân hàng hạn chế sai lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ”. Trong năm 2017, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kinh tế Hà nội tăng trưởng 8,5% so với năm 2016, dân số trung bình trên địa bàn thành phố là 7,654 triệu người tương ứng tăng 1,8%, thu nhập bình quân đầu một người trên một năm là 86 — 88 triệu đồng, tăng 1 triệu so với năm 2016. Cùng với tốc độ tăng vốn đầu tư là 10,5%. Đó là những cơ hội giúp cho các NHTM hoạt động trên địa bàn Hà Nội có thé tận dụng dé mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng, một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nên kinh tế luôn đối mặt với những rủi ro ngày càng lớn. Một trong những rủi ro không thể không nhắc đến đó là rủi ro thanh khoản. Cùng với yêu cầu chuẩn hóa theo tiêu chuẩn Basel III, các NHTM cần thiết phải tìm hiểu nguyên nhân, đánh giá được rủi ro thanh khoản để đưa ra được những biện pháp hạn chế rủi ro, những chiến lược kinh doanh phù hợp, những giải pháp xử lí tổn thất kịp thời. Khi được tạo điều kiện thực tập tại Ngân hàng thương mại cô phần A Châu — Chi nhánh Đông Đô, tôi nhận thấy ngân hàng có cơ hội phát triển hoạt động kinh doanh nhưng cũng đối mặt với thách thức tạo dựng lòng tin của khách hàng khi chuyên sang địa điểm mới.
Vì vậy, việc hạn chế rủi ro nói chung và rủi ro thanh khoản nói riêng là cần thiết. Qua những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Han chế rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cô phan A Châu — chỉ nhánh Đông D6” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình. CHUONG 1: TONG QUAN VE RUI RO THANH KHOAN TAI CAC NHTM VIET NAM 1. Khai quat vé NHTM 1.
NHTM va các hoạt động cia NHTM 1. Khái niệm NHTM NHTM đã xuất hiện từ hàng trăm năm trước, gắn liền với sự phát trién của nền kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của hệ thong NHTM đã có tác động rat lớn và vô cùng quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, NHTM ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thé thiếu được trong hệ thống tài chính quốc gia.
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ: “ Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Đạo luật ngân hàng cua Pháp (1941) : “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tải nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Như vậy, NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu SPDV của xã hội.
Nhờ hệ thong dinh ché tai chinh trung gian nay mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rai rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung và sử dụng để cấp tín dụng cho các cá nhân, tổ chức kinh tế khác với mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Các hoạt động cơ bản của NHTM Ta có thể tổng quát hoạt động cơ bản của NH thành 3 nhóm như sau: - Hoạt động tạo nguôn vốn kinh doanh cho NHTM. Hoạt động này thé hiện qua kết cau NV của NHTM > Vốn của NHTM: vốn tự có Vốn tự có bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ. Vốn điêu lệ là khoản vốn thuộc sở hữu của NHTM, ghi trong điều lệ thành lập NHTM.
Quy mô vốn điều lệ của NHTM lớn hay nhỏ tùy thuộc vào quy mô NH. Tuy nhiên, vốn điều lệ phải đáp ứng ít nhất băng vốn pháp định theo quy định của Nhà nước. Vốn điều lệ được sử dụng trong đầu tư cơ sở vật chất như tài sản, trang thiết bị ban đầu cần thiết cho hoạt động của NHTM; góp vốn liên doanh, cho các thành phần kinh tế vay và thực hiện dịch vụ khác của NHTM. Quỹ dy trữ được hình thành từ hai quỹ: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ bù đắp rủi ro.
Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của NHTM. Ngoài ra, quỹ dự trữ bồ sung vốn điều lệ còn bao gồm ca thing dư vốn phát hành cô phiếu và vốn phát hành trái phiếu chuyền đổi thành cô phiếu. Việc hình thành các quỹ này nhằm tăng vốn tự có của NHTM, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Vốn khác của NHTM bao gồm các khoản tiền nhàn rỗi của NHTM.
Đây là khoản vốn được phân bồ cho những mục dich chi tiêu nhất định nhưng tạm thời chưa được sử dụng như: Lợi nhuận chưa phân bỏ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán, thuế chưa đến kỳ hạn nộp,. > Vốn huy động: Đây là NV quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của các NHTM, gồm: Tiền gửi không ky hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm,. Trong đó, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là NV quan trọng nhất. Day là NV tương đối ôn định vi NH nắm được những kỳ luân chuyên của vốn.
Do đó, NH có thê cho vay linh hoạt các kỳ hạn: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. > Vốn đi vay: NV đi vay có vị trí quan trọng trong tổng NV của NHTM. Vốn đi vay bao gồm vay từ NHTW, vay từ các TCTD khác, vay từ công ty mẹ, vay từ thị trường tài chính trong nước, vay nước ngoài. > Các nguồn vốn khác: như vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác dé cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng, vốn hình thành từ trong quá trình hoạt động của NH.
- Hoạt động sử dụng nguồn vốn của NH: > Nghiệp vụ ngân quỹ: Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, NH luôn giữ một lượng tiền mặt dưới dạng như: TM tại quỹ của NH, TG tại các NHTM khác, TG tại NHTW, TM trong quá trình thu. Ngoài TM, NH còn giữ các chứng khoán ngắn hạn, có tính thanh khoản cao dé có thé chuyên thành TM nhanh chóng khi cần. Lượng TM trong nghiệp vụ ngân quỹ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ, va theo xu hướng hiện nay thì ty trọng đó ngay càng giảm. Nghiệp vụ ngân quỹ tuy khả năng sinh lời thấp nhưng rất quan trọng vì nó đảm bảo tính thanh khoản của NHTM đó.
> Nghiệp vụ tín dụng: Tín dụng NH bao gồm các hình thức “cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính”. Hoạt động sinh lời chủ yếu cho NHTM là cho vay. > Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn của mình mua các chứng khoán hoặc đầu tư theo dự án. Ở Việt Nam, Luật các TCTD cho phép NHTM dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ dé góp vốn, mua cô phần của DN hay TCTD khác.
- Hoạt động ngoại bảng: “là các hoạt động không thuộc cân đối tài sản (nội bảng) nhưng lại có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối nội bảng”. > Đó là các hoạt động tao ra thu nhập hoặc chi phí mà không tạo ra một loại tài sản có hoặc tài sản nợ nào. Ví dụ: NHTM đóng vai trò là người môi giới hoặc NHTM thực hiện dịch vụ quản lý TM cho DN. > Đó là những cam kết mà NHTM chấp thuận thực hiện một hành động trong tương lai và được hưởng phí thực hiện cam kết đó.
Bao gồm: bảo lãnh tài chính — một NHTM đứng sau nghĩa vụ cua một bên thứ ba và thực hiện nghĩa vụ đó nếu bên thứ ba không thực hiện được như cam kết tái cấp vốn, phát hành cổ phiếu. " tài trợ ngoại thương — gồm 2 hình thức L/C và tham gia chấp nhận thanh toán, đòi hỏi NH phải bảo đảm rằng KH của mình sẽ thực hiện thanh toán một phần nợ đã thỏa thuận với bên chủ nợ; Các hoạt động đầu tư — bao gồm các công cụ phái sinh như hợp đồng tương lai, hợp đồng tài chính giao sau, hoán đổi lãi suất/ ngoại tệ. Rui ro tai các NHTM 1. Khái niệm rủi ro - Theo góc độ chung, có rất nhiều định nghĩa RR khác nhau.
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tóm lại có thể chia thành 2 quan điểm lớn: truyền thống và hiện đại. Theo quan điểm truyền thống, RR là tổn thất, không được dự báo trước; đó có thé là sự tôn thất về TS, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến. Theo quan điểm hiện đại, RR là tổn thất có thé đo lường được, vừa mang tính tiêu cực và tích cực; RR có thé mang đến những thiệt hại nhưng cũng có thé mang lại lợi ích, cơ hội cho con người. Trong nên kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển bùng nỗ của khoa học công nghệ, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
DN muốn tồn tai được trong bối cảnh đó cần đánh giá được những RR có thé gặp phải trong hoạt động sản xuất — kinh doanh; từ đó có những giải pháp ngăn ngừa được RR và chấp nhận RR ở mức độ hợp lý thay vì né tránh RR.