Chương 1: Lý luận cơ bản về phương thức TDCT và rủi ro trong phương thức TDCT - Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán TDCT tại ngân hàng TMQT Mega CN TP. HCM - Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức TDCT tại ngân hàng TMQT Mega CN TP. HCM 123doc 1 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƢƠNG THỨC TDCT VÀ RỦI RO TRONG PHƢƠNG THỨC TDCT 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ (TTQT) 1.
Khái niệm TTQT: TTQT ra đời từ lâu nhưng nó chỉ thật sự phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng tăng, từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngân hàng cũng tăng theo. Việc thanh toán qua ngân hàng làm gia tăng việc sử dụng các đồng tiền của các nước để chi trả lẫn nhau. TTQT đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của nền kinh tế của các quốc gia ngày nay. Có nhiều định nghĩa khác nhau về TTQT như: Thứ nhất: việc trao đổi các hoạt động kinh tế và thương mại giữa các quốc gia làm phát sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nước này đối với một nước khác trong từng giao dịch hoặc từng định kỳ chi trả do hai nước quyết định.
Trong mối quan hệ chi trả này, các quốc gia phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phương thức thanh toán. Tổng hợp các yếu tố cấu thành cơ chế đó tạo thành TTQT giữa các quốc gia. (1) Thứ hai: TTQT là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau. (2) Từ hai định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy được một số đặc điểm của TTQT như sau: - TTQT diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới các ngân hàng trên thế giới.
(1) Đinh Xuân Trình (2006), “Giáo trình thanh toán quốc tế”, NXB Lao động – Xã hội (2) Trầm Thị Xuân Hương (2006), “Thanh toán quốc tế”, NXB Thống kê, Tp. HCM 123doc 2 - TTQT khác với thanh toán trong nước vì nó liên quan đến các trao đổi tiền của quốc gia này lấy tiền của quốc gia khác. Vì vậy khi ký kết các hợp đồng mua bán ngoại thương các bên phải thỏa thuận với nhau lấy đồng tiền của nước nào là tiền tệ tính toán và thanh toán trong hợp đồng, đồng thời phải tính toán thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro khi tỷ giá hối đoái biến động. - Tiền tệ trong TTQT không phải là tiền mặt mà nó tồn tại dưới hình thức các phương tiện thanh toán như thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, hối phiếu, kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ.
- TTQT được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi pháp luật của các quốc gia, qua chính sách kinh tế, ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia vào quá trình thanh toán. Vai trò của TTQT Khi việc thanh toán giữa các đối tác với nhau vượt ra phạm vi của một quốc gia, nó đòi hỏi phải có những tổ chức trung gian tài chính đứng ra dàn xếp, thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn của mình, hệ thống NHTM là một định chế tài chính trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình này. Nó đặc biệt quan trọng bởi vì các NHTM với những chức năng của mình là cầu nối không thể thiếu trong hoạt động thanh toán giữa các nước với nhau và cũng bởi vì nó có các mối quan hệ đại lý rộng khắp với các ngân hàng khác trên thế giới. Những mối quan hệ đó giúp cho việc thanh toán diễn ra nhanh chóng và thuận tiện, rút ngắn thời gian thu hồi vốn và tiết kiệm được chi phí.
Với sự uỷ thác của khách hàng trong việc thu tiền, các NHTM không chỉ bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong các giao dịch thanh toán mà còn tư vấn cho họ nhằm tạo nên sự tin tưởng, hạn chế rủi ro trong quan hệ thanh toán với các đối tác 123doc 3 nước ngoài. Phí thu được từ hoạt động TTQT góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập của các ngân hàng. TTQT không chỉ đem lại nguồn thu dịch vụ cho ngân hàng, mở rộng vốn, đa dạng hoá các dịch vụ mà còn nâng cao vị thế, uy tín của các ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế. Trong quá trình lưu thông hàng hoá, TTQT là khâu cuối cùng, do vậy nếu thanh toán thực hiện nhanh chóng và liên tục, giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu được thực hiện sẽ có tác dụng thúc đẩy tốc độ thanh toán và giúp các doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh.
Thông qua TTQT còn tạo nên các mối quan hệ tin cậy giữa doanh nghiệp và ngân hàng, từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp được các ngân hàng tài trợ vốn trong trường hợp doanh nghiệp thiếu vốn, hỗ trợ về mặt kỹ thuật thanh toán thông qua việc hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp, hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thanh toán với các đối tác. TTQT còn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu gia tăng qui mô hoạt động, tăng khối lượng hàng hoá giao dịch và mở rộng quan hệ giao dịch với các nước. TTQT cũng tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho các ngân hàng thông qua việc chuyển tiền vào tài khoản của các khách hàng xuất khẩu, các ngân hàng có thể sử dụng nguồn ngoại tệ đó cho các khách hàng nhập khẩu vay để thanh toán với phía đối tác. Do đó TTQT có liên quan mật thiết đến nghiệp vụ huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán trong nước, bảo lãnh và kinh doanh ngoại tệ của các NHTM.
Qua những phân tích trên cho thấy TTQT ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM trong nước nói riêng và các ngân hàng khác trên thế giới nói chung. PHƢƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (TDCT) 1. Cơ sở ra đời của phƣơng thức TDCT Khi hàng hoá được mua hoặc bán ngoài lãnh thổ quốc gia, các giao dịch này 123doc 4 có thể trở nên rất phức tạp bởi rất nhiều lý do như: thời gian vận chuyển hàng, rủi ro trên hành trình vận chuyển, các thủ tục hải quan, các quy định về XNK, quản lý ngoại tệ và một thực tế là người bán và người mua ở cách xa nhau bởi các đường biên giới. Thêm vào đó hai bên có thể chưa bao giờ gặp gỡ nhau và vì vậy hoàn toàn lạ lẫm về thực trạng và sự trung thực trong kinh doanh của nhau.
Ngoài ra nhiều quốc gia còn đang lún sâu vào gánh nợ chồng chất trong những năm gần đây. Do vậy, cái cần thiết cho nghiệp vụ này là một thể thức tiến hành đảm bảo lợi ích của các bên liên quan. Người mua cần được biết rằng anh ta đã thanh toán và sẽ nhận được hàng hoá phù hợp. Lợi ích của người bán là nhận được sự thanh toán ngay lập tức.
Để thỏa mãn cả hai, TDCT đã được sử dụng rộng rãi, hình thức này được xử lý trong mạng lưới các ngân hàng quốc tế, yêu cầu người xuất khẩu xuất trình cho ngân hàng các chứng từ chứng minh sự giao hàng hoặc gửi các hàng hoá đ ã yêu cầu, qua đó nếu các chứng từ hợp lệ, người bán sẽ đ ư ợ c thanh toán. Yêu cầu sử dụng thư tín dụng phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Thư tín dụng là một cam kết có điều kiện của ngân hàng. Chi tiết hơn, nó là một cam kết bằng văn bản của ngân hàng giao cho người bán theo yêu cầu và trên cơ sở các chỉ dẫn của người mua thanh toán ngay hoặc vào một ngày xác định trong tương lai một số tiền đã định, trong một giới hạn thời gian và trên cơ sở các chứng từ đã được quy định.
Thư tín dụng là một phương thức tiện lợi và an toàn nhất cho thanh toán xuất nhập khẩu so với các hình thức thanh toán hiện hành như nhờ thu, thanh toán ứng trước, thanh toán bằng séc… 1. Khái niệm, đặc trƣng và vai trò của phƣơng thức TDCT 1. Khái niệm phương thức TDCT Phương thức TDCT là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép một ngân hàng khác chi trả một số tiền nhất định cho người thụ 123doc 5 hưởng thư tín dụng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thụ hưởng xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều khoản, điều kiện quy định trong thư tín dụng. Đặc trưng của phương thức TDCT Trong nghiệp vụ TDCT, tất cả các bên liên quan chỉ giao dịch bằng chứng từ mà không giao dịch bằng hàng hoá, các dịch vụ và/ hoặc các công việc khác mà chứng từ đó có thể liên quan.
Nét đặc trưng khác của thư tín dụng chính là tính độc lập của nó với hợp đồng, thư tín dụng hoàn toàn độc lập với hợp đồng giữa hai bên mua bán mặc dù thư tín dụng cụ thể hoá nghĩa vụ và quyền lợi của cả hai bên: người mua yêu cầu ngân hàng bảo đảm thanh toán, người bán phải giao hàng theo quy định trong hợp đồng, đúng thời hạn, thiết lập chứng từ hoàn chỉnh và hợp lệ,…và các điều kiện khác đã thỏa thuận. Theo Điều 4, mục A, UCP 600 “ Về bản chất, thư tín dụng là một giao dịch riêng biệt với các hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà các hợp đồng này có thể làm cơ sở của thư tín dụng. Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, thậm chí ngay cả trong thư tín dụng có bất cứ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng như thế. Vì vậy sự cam kết của một ngân hàng để thanh toán, thương lượng thanh toán hoặc thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào khác trong thư tín dụng không phụ thuộc vào các khiếu nại hoặc các biện hộ của người yêu cầu phát sinh từ các quan hệ của họ với ngân hàng phát hành hoặc với người thụ hưởng”.