Chương 1. Cơ sở lý luận về hiệp ước vốn Basel II. Thực trạng áp dụng Basel II tại các Ngân hàng Thương mại nhà nước chiếm cổ phần chi phối. Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng Basel II trong quản trị rủi ro tại các NHTM Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ƯỚC VỐN BASEL II 1. Quản trị rủi ro trong Ngân hàng thương mại. Những loại rủi ro cơ bản trong ngân hàng thương mại. Dưới góc độ hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro được định nghĩa là những tổn thất tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng đạt được các mục tiêu của NHTM.
Tất cả các hoạt động của NHTM đều chứa đựng rủi ro hay những yếu tổ không lường trước được, có thể gây tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro thị trường Rủi ro thị trường là một trong những nội dung trọng tâm và được định nghĩa tại Điểm b Khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2017/TT- NHNN. Cụ thể như sau: Rủi ro thị trường: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường. Rủi ro thị trường bao gồm: Rủi ro lãi suất: là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất trên thị trường đối với giá trị của giấy tờ có giá, công cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm phái sinh lãi suất trên sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Rủi ro ngoại hối: là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá trên thị trường khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ; Rủi ro giá cổ phiếu là rủi ro do biến động bất lợi của giá cổ phiếu trên thị trường đối với giá trị của cổ phiếu, giá trị chứng khoán phái sinh trên sổ kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Rủi ro giá hàng hóa là rủi ro do biến động bất lợi của giá hàng hóa trên thị trường đối với giá trị của sản phẩm phái sinh hàng hóa, giá trị của sản phẩm trong giao dịch giao ngay chịu rủi ro giá hàng hóa của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Rủi ro tín dụng. 7 Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế chỉ ra rằng: Đối với lĩnh vực ngân hàng, rủi ro tín dụng được đánh giá là rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất và là một phần cố hữu của các hoạt động kinh doanh cốt lõi của ngân hàng. Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM, đem lại lợi nhuận lớn nhất nhưng cũng là loại rủi ro lớn nhất của NHTM. Rủi ro tín dụng được đề cập ở đây là rủi ro trong hoạt động cho vay, cấp tín dụng của NHTM.
Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”.Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa NH với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Như vậy có thể hiểu, rủi ro tín dụng là những khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản vay hoặc khách hàng không thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản: “Là tình trạng NHTM không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng (nhu cầu thanh khoản)”. Tình trạng này nhỏ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh doanh đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán và dẫn đến ngân hàng phá sản.
Rủi ro thanh khoản cũng còn được hiểu “Là một rủi ro trong lĩnh vực tài chính. Rủi ro này xảy ra khi NHTM thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay”. Thiếu ngân quỹ ở đây có thể được hiểu theo 2 cách: thiếu dự trữ tại ngân hàng, hoặc là không thể huy động được nguồn vốn ngay lập tức. Để tránh được rủi ro thanh khoản, các NHTM phải tính toán được hệ số thanh khoản của mình, tức là tính được khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngay của các tài sản Nợ.
8 Rủi ro hoạt động Rủi ro hoạt động: Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “Rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất cho ngân hàng do nguyên nhân con người, sự không đầy đủ hay vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài”. Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra do hoạt động kém hiệu quả, ví dụ như hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động có vấn đề, có vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những thảm họa không lường trước được. Quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại. Trước bối cảnh cạnh tranh và hội nhập sâu rộng như hiện nay, một trong những vấn đề đặt ra cho sự tồn tại và phát triển của một NHTM là khả năng quản trị rủi ro một cách toàn diện và có hệ thống.
Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro để từ đó có sự chuẩn bị nhằm hạn chế tối đa các rủi ro có thể xảy đến. Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng luôn phải đối mặt với các loại rủi ro đặc thù, nó có thể là nguyên nhân làm phát sinh các hiệu ứng tiêu cực làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, để đạt được mục tiêu quan trọng nhất là giảm thiểu tác động tiêu cực của các rủi ro đến kết quản kinh doanh thì bản thân ngân hàng phải tiến hành quản trị rủi ro một các toàn diện, tích cực và có một quy trình khoa học. Theo đó, quá trình quản trị rủi ro trong ngân hàng bao gồm các khâu như: nhận biết, đo lường, kiểm soát, giám sát và báo cáo rủi ro.
Quản trị rủi ro tại NHTM hiện đại nên được tổ chức theo mô hình “3 lớp phòng vệ” với các đặc điểm quan trọng như sau: - HÐQT giám sát rủi ro một cách tách biệt với Ban điều hành. 9 - Lớp phòng vệ thứ 1 - Bản thân các đơn vị kinh doanh có trách nhiệm quản lý rủi ro trong phạm vi đơn vị. - Lớp phòng vệ thứ 2 - Bộ phận quản lý rủi ro tập trung và độc lập có trách nhiệm phát triển, duy trì và giám sát quản lý rủi ro toàn ngân hàng. - Lớp phòng vệ thứ 3 - Bộ phận kiểm toán, kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động độc lập, giám sát đảm bảo tính tuân thủ với chiến lược, chính sách và các quy định quản trị rủi ro đã đặt ra.1: Mô hình quản trị rủi ro ba lớp phòng vệ (Tài liệu Quản trị rủi ro của IFC) Các loại rủi ro phát sinh đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam là đối tượng chủ yếu của công tác quản trị rủi ro.
Các loại rủi ro có liên quan đến các ngân hàng thương mại Việt Nam thường là rủi ro nợ xấu, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp. Mỗi loại rủi ro đều có phương thức quản trị khá hữu hiệu. Sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong NHTM Hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hoạt động của ngân hàng cũng ngày một mở rộng và đa dạng 10 hơn, cùng với đó, các ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau. Chính vì vậy, để đảm bảo được sự an toàn trong hoạt động của bản thân mỗi ngân hàng cũng như cho toàn hệ thống ngân hàng thì việc củng cố và nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong mỗi ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết.
Quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Năng lực quản trị rủi ro và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng có tác động thúc đẩy lẫn nhau, theo đó, quản trị rủi ro tốt là điều kiện đảm bảo cho hoạt động kinh doanh ngân hàng và khi có được kết quả kinh doanh tốt, ngân hàng sẽ có điều kiện chú trọng và nâng cao chất lượng quản trị rủi ro. Quản trị rủi ro để nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế.Hội nhập quốc tế luôn là vấn đề được các tổ chức, cá nhân quan tâm, trong đó có ngành tài chính – ngân hàng bởi lẽ các ngân hàng trong nước sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh ngày càng nhiều, cả về quy mô, năng lực cũng như phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao hơn do những diễn biến phức tạp của thị trường. Do đó, việc quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng là vô cùng cần thiết trong điều kiện kinh tế như hiện nay.
Những vấn đề cơ bản về Basel II. Sự ra đời của Hiệp ước vốn Basel. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện Ngân hàng Trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thủy Điển, Thụy Sỹ và Ý.
Ủy ban được họp 4 lần trong một năm. Vào năm 1988, Ủy ban Basel đã đưa ra Hiệp ước vốn Basel mà sau này còn được gọi là Basel I với hai mục chính là tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế và hai là giảm thiểu hoặc loại trừ những khác biệt trong cạnh tranh 11 quốc tế giữa các ngân hàng do có sự khác biệt trong quy định của mỗi quốc gia. Basel I cũng đã đưa ra những quy định về khái niệm Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trong ngân hàng (CAR), theo đó, CAR của các ngân hàng được tính bằng tỷ lệ giữa vốn tự có trên tổng tài sản có rủi ro được Ủy ban Basel quy định và phải duy trì con số tối thiểu là 8%.