CHƯƠNG 1 16 Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XVIII là xã hội với cuộc nội chiến kéo dài giữa họ Trịnh và họ Nguyễn đã làm nhân dân Việt Nam, nhất là nhân dân ở Đàng ngoài vô cùng khốn khổ. Chiến tranh liên miên kéo theo nó là tô thuế, nạn dao dịch, binh dịch. Không những thế các chúa Trịnh còn lo việc ăn chơi và xây dựng chùa chiền hơn lo việc trị nước, mỗi cuộc trùng tu hay tôn tạo chùa chiền là gánh nặng dao dịch, thuế má theo đó tăng lên khiến cuộc sống của người dân vô cùng khốn cùng. Nhà nước lại không quan tâm đến sản xuất đã tạo nên nhiều mối đe dọa tự nhiên.
Thế kỷ XVIII, nạn đê vỡ, hạn lụt xảy ra liên miên, uy hiếp thường xuyên nền sản xuất nông nghiệp, tình trạng thiên tai mất mùa, đói kém xảy ra khá phổ biến ở thế kỷ này. Triều đình tỏ ra bất lực trước sức lớn mạnh của các cuộc khởi nghĩa nông dân. Việc chống lại nghĩa quân không còn dễ dàng như trước mà là một việc vô cùng gian lao và nguy hiểm. Nhiều kẻ thấy việc “tiễu phạt” nghĩa quân không còn là một dịp để thăng quan tiến chức nữa.
Họ đã mỏi mệt trước lực lượng đấu tranh bền bỉ của nhân dân. Ngay trong giai cấp phong kiến đã nảy ra tâm lý chán ghét chiến tranh, một thứ chiến tranh tàn phá đất nước, gieo tang tóc cho nhân dân, làm mòn mỏi giai cấp phong kiến, cuộc sống càng thêm khổ cực. Qua Đoàn Thị thực lục chúng ta có thể biết rõ hơn về thân thế và sự nghiệp của Đoàn Thị Điểm : quê nội của bà là làng Giai Phạm nổi tiếng “nhân kiệt địa linh”, quê ngoại của bà là đất Thăng Long lừng danh “ngàn năm văn hiến”. Đoàn Thị thực lục cũng cho biết bà học rất thông minh, giỏi văn chương “miệng nói ra là thành văn chương và làm việc gì cũng phải phép”.
Nhất là về hiếu hạnh và nữ công của bà thì cả vùng đều biết tiếng. Do sống ở Thăng Long, quê mẹ thời gian dài nên bà đã trau dồi được nhiều kiến thức, quen biết nhiều người nơi đây, và bà cũng chứng kiến cảnh loạn lạc ở Kinh thành. Điều đó đã tạo cho bà có được hồn thơ cùng với thực tế 17 cuộc sống giúp bà sau này dịch thành công ra chữ Nôm tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn bằng Hán văn. 18 CHƯƠNG 2 VĂN BẢN ĐOÀN THỊ THỰC LỤC VÀ PHẦN CHÉP VỀ HỒNG HÀ PHU NHÂN DI VĂN 2.
Văn bản Đoàn Thị thực lục 2. Xuất xứ văn bản Đoàn Thị thực lục nguyên được chép trong một tập sách có nhan đề “Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn cổ tự chỉ”. Tập sách này có được là do phái viên của Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội về tận xã Giai Phạm tiến hành sao chép các giấy tờ có chữ Hán và chữ Nôm, tức cái gọi là “cổ chỉ” (giấy cổ) hoặc “cổ tự chỉ” (giấy tờ có chữ cổ) để mang về lưu tại Thư viện của Học viện. Tập sách “Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn cổ tự chỉ” được sao chép vào năm Khải Định 4 (tức 1919), dựa vào một bản gốc do xã đệ trình.
Ở cuối bản sao, có chữ ký của Quản bạ Lê Văn Thiệu là trưởng thôn, và nhận thực của Lý trưởng Đoàn Xuân Mai là cháu xa đời của họ Đoàn. Tập bản sao này hiện được tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang ký hiệu AHa1/2, và trong cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu - Bổ di I, do Trần Nghĩa chủ biên, Nxb. KHXH, Hà Nội – 2003, có giới thiệu sơ bộ (xem Quyển Hạ, mục sách 2155). Trong sách Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu do Trần Nghĩa và Francois Gpos đồng chủ biên, cũng có giới thiệu một cuốn Đoàn Thị thực lục, nhưng đây là sách riêng của H.
Maspero, hiện tàng trữ ở Thư viện Hiệp hội Châu Á, Paris, mang ký hiệu Paris. Ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm không có sách này. Tình trạng văn bản Văn bản chép tay, khổ giấy 27cm x 16cm, 100 tờ, mỗi tờ 2 trang, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng xấp xỉ 20 chữ Hán viết chân phương. 19 Tờ 1a chính giữa trang sách có dòng chữ “Hưng Yên tỉnh, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn cổ tự chỉ” được viết bằng nét chữ to, ở giữa có chua dòng chữ nhỏ “Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng”, có nghĩa đây là tập giấy tờ cũ ở thôn Trung Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tổng Yên Phú, tỉnh Hưng Yên”.
Bên trái của trang sách ghi dòng chữ nhỏ “Cổ Hiến Phạm xã, thuộc Kinh Bắc xứ, Thuận An phủ, Văn Giang huyện = xưa thuộc xã Hiến Phạm, thuộc xứ Kinh Bắc, phủ Thuận An, huyện Văn Giang”. Đây là những gì được ghi ở tờ đầu tiên, mặt trước của tập sách. Tờ 1b ghi : “Giai Phạm xã, Trung Phú thôn, cổ tự chỉ” đây là dòng chữ tiếp nối, cho biết xuất xứ của tập văn bản. Tiếp đó, ngay phía bên trái là mục lục của tập sách gồm các tiêu đề : - “Hoàng Lê Ngọc phả = Ngọc phả triều nhà Lê”, phía dưới chua dòng chữ nhỏ, viết thành hai hàng (lưỡng cước chú): “Cảnh Hưng ngự chế tự tính phả hệ = Bài tựa của vua Lê Cảnh Hưng và phả hệ”.
- “Lê Hoàng ấn kiếm thực lục = Thực lục ấn kiếm của nhà Lê”. - “Đoàn Thị thực lục = Thực lục về họ Đoàn”, phía dưới ghi dòng chữ nhỏ, viết thành hai hàng “do Hồng Hà Đoàn phu nhân Thị Điểm lược phả tính di văn = gồm gia phả tóm lược của Hồng Hà phu nhân Đoàn thị Điểm và phần văn chương còn để lại của bà”. Tờ 2a ghi tiếp mục lục của tập văn bản : - “Lam Sơn cổ tích lưu thanh sách = Chuyện cổ Lam Sơn lưu sử xanh”. - “Hoàng Lê Ngọc phả ký tập = Tập ngọc phả của vua Lê”.
- “Kiếm thủy kim truyền ký phả văn = Bài văn phả ký còn truyền đến nay về hồ Hoàn Kiếm”. Phía dưới trang 2a có dòng chữ nhỏ viết thành 5 hàng, mỗi hàng có 3 chữ: “Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn, viễn tôn đẳng, bái thủ thư = Con cháu xa đời ở thôn Trung Phú, xã Giai Phạm, tổng Yên Phú kính chép”. 20 Tờ 2b là phần chính văn, bắt đầu bằng Hoàng Lê Ngọc phả ký tập từ tờ 2b đến tờ 24b. Dưới tiêu đề có ghi dòng chữ “Ngự chế Ngọc phả ký tự = Bài tựa của Ngọc phả ký, do nhà vua soạn”.
Phần chính văn Hoàng Lê Ngọc phả ký tập được viết bằng chữ to, phần “lưỡng cước chú” viết bằng chữ nhỏ. Và để tỏ ý tôn kính, các chữ “trẫm”, “tổ”, “thánh”, “thần”, “hoàng” đều viết nhô cao lên (đài đầu) so với các dòng chữ còn lại. Các tờ 5b, 6a, 6b phía đầu trang sách là 3 dấu bảo ấn, hình vuông, với 4 chữ “sắc mệnh chi bảo”, viết theo kiểu “triện thể”. Tờ 7a ghi 4 chữ lớn “Thần kiếm hình trạng = Hình dạng của kiếm thần”.
Tờ 7b vẽ hình lưỡi gươm thần với 4 chữ “Lê Lợi thuận thiên = Lê Lợi thuận theo ý trời” “Thuận thiên” còn là nien hiệu của Lê Thái Tổ (Lê Lợi) được viết ở phần mũi và chuôi kiếm. Xung quanh chiếc kiếm thần là 4 chữ “Thần kiếm hình trạng = Hình dạng lưỡi gươm thần” cũng được ghi bằng triện thể. Từ tờ 8a, dòng 2, đến trang 14b là Hoàng Lê Ngọc phả ký tập, phần này ghi tên tự, tên huý của các vua triều Lê. Từ tờ 14b đến tờ 17b là “Mỹ tặng vương thụy phi thụy tập ký = Những mỹ tự tặng cho cha, mẹ của các vua”.
Từ tờ 17b đến tờ 24b là “Hoàng Lê Ngọc phả tương truyền thế hệ chi đồ = Sơ đồ về thế thứ các đời của dòng họ vua nhà Lê”. Phần thứ hai của tập sách là Đoàn Thị thực lục bắt đầu từ tờ 24 đến tờ 100. Phần này bao gồm: - Hồng Hà phu nhân gia phả. - Hồng Hà phu nhân di văn.
- Hồng Hà phu nhân truyện. - Hồng Hà phu nhân nghiêm phụ thần đạo bi ký.Hồng Hà phu nhân gia phả (từ tờ 24 đến tờ 53) : Được viết bằng chữ to, kèm theo một số lưỡng cước chú.Hồng Hà phu nhân di văn (từ tờ 53 đến tờ 95) : Tiêu đề Hồng Hà phu nhân di văn được viết bằng chữ to, phía trên của mấy chữ “Hồng Hà phu nhân di văn” là hai chữ “Phụ biên” (biên chép thêm vào). Phần này gồm thơ, văn, câu đối chép lẫn lộn, không tách hẳn theo từng thể loại.Hồng Hà phu nhân truyện (từ tờ 95a đến tờ 96a) : Phía dưới dòng chữ lớn “Hồng Hà phu nhân truyện” là dòng cước chú chữ nhỏ “Nguyễn Công Kiều á phu nhân = Bà vợ thứ (Đoàn Thị Điểm) của Nguyễn Kiều”.Hồng Hà phu nhân nghiêm phụ thần đạo bi ký (từ tờ 96a đến tờ 98a). Ở đây, dưới tiêu đề tấm bia “Lê triều Thái học sinh Dương Kính tiên sinh bi chí” là bài văn và bài minh do các môn nhân của Đoàn Doãn Nghi soạn.
Cuối bài văn bia là tên những người học trò đã khởi công (Đào Duy Dung, Nguyễn Đình Dung), góp kinh phí (Vũ Đình Huyên…tất cả 9 người) và soạn bài văn bia. Tờ 100a cuối tập sách có 4 hàng chữ: - Hàng thứ nhất: “Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn, cổ tự chỉ = Cổ tự chỉ ở thôn Trung Phú, xã Giai Phạm, tổng Yên Phú”. - Hàng thứ hai: “Khải Định tứ niên bát nguyệt sơ lục nhật thừa phái hồi sao cứ kiến xã nội đệ tường phụng sao tập thành nhất bản = Vào ngày 6 tháng 8 năm Khải Định thứ tư (tức năm 1919) phái viên (của Học viện Viễn đông bác cổ Pháp tại Hà Nội) về tận địa phương sao chép, theo văn bản do xã cung cấp, thành một tập). - Hàng thứ ba: “Lê tộc trưởng tôn quản bạ Lê Văn Thiệu ký = Người giữ tài liệu là Lê Văn Thiệu, cháu đích tôn của dòng họ Lê, ký tên”.
- Hàng thứ tư: “Thừa nhận thực Đoàn tộc viễn tôn Lý trưởng Đoàn Xuân Mai = Người nhận thực là Đoàn Xuân Mai, cháu xa đời của họ Đoàn”. Nội dung văn bản Sau khi hiểu rõ tình trạng văn bản, chúng ta hãy đi vào nội dung từng phần trong tập sách. Để tiện theo dõi, ta có thể chia văn bản ra làm hai phần chính: - Hoàng Lê Ngọc phả ký tập - Đoàn Thị thực lục Sau đây là nội dung cụ thể của từng phần: 1.