Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, tầng lớp trí thức Nho học luôn giữ vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước quân chủ. Dưới triều Nguyễn (1802 - 1945), chính sách trọng dụng hiền tài và hoàn thiện hệ thống giáo dục - khoa cử đã tạo điều kiện cho nhiều địa phương phát huy truyền thống hiếu học. Vùng đất Quảng Nam nói chung và huyện Thăng Bình (trước đây là huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa) nói riêng được sử tịch triều Nguyễn ghi nhận là nơi "Học trò chăm học hành, quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh". Để biểu dương công lao của các bậc khoa bảng và khuyến khích việc học tập, người Thăng Bình xưa đã xây dựng Văn miếu (Văn thánh Thăng Bình) vào năm 1856 và sau đó tiến hành dựng hệ thống văn bia vinh danh các nhà khoa bảng của địa phương.

Hiện nay, hệ thống văn bia Văn thánh Thăng Bình được lưu giữ tại di tích đình làng Hà Lam. Dù đã có một số công trình sưu tập và dịch thuật tư liệu Hán Nôm, song chưa có công trình nào khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống về đội ngũ Nho sĩ huyện Thăng Bình dưới triều Nguyễn dựa trên nguồn sử liệu văn bia này. Khóa luận tốt nghiệp "Nho sĩ Thăng Bình, Quảng Nam dưới triều Nguyễn qua tư liệu văn bia" do sinh viên Nguyễn Thị Vũ thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu trên.

Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm hai nội dung chính:

  1. Nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về đội ngũ Nho sĩ, đặc điểm và những đóng góp của Nho sĩ huyện Thăng Bình, Quảng Nam dưới triều Nguyễn qua nguồn tư liệu văn bia.
  2. Rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các kiến nghị cho việc bồi dưỡng, phát triển đội ngũ trí thức hiện nay của huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nói riêng và cả nước nói chung.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 4 nhiệm vụ:

  1. Tìm hiểu về huyện Thăng Bình, Quảng Nam trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục.
  2. Làm sáng tỏ hệ thống đội ngũ Nho sĩ huyện Thăng Bình, Quảng Nam dưới triều Nguyễn, chú trọng các bậc danh khoa, các nhà khoa bảng tiêu biểu.
  3. Phân tích đặc điểm và những đóng góp của Nho sĩ Thăng Bình, Quảng Nam dưới triều Nguyễn.
  4. Nhận xét, đánh giá về Nho sĩ Thăng Bình, Quảng Nam dưới triều Nguyễn để rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ trí thức địa phương và cả nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nho sĩ huyện Thăng Bình, Quảng Nam dưới triều Nguyễn qua tư liệu văn bia trên các khía cạnh: tiểu sử, quá trình tham gia khoa cử, sự nghiệp quan trường và những đóng góp đối với triều Nguyễn cùng địa phương.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1802 đến năm 1945 (gắn liền với sự tồn tại của triều Nguyễn và nền Hán học khoa cử).
  • Phạm vi không gian: Các nhà khoa bảng có xuất thân từ huyện Lễ Dương thời Nguyễn (sau Cách mạng tháng Tám 1845 đổi tên thành huyện Thăng Bình), tương ứng với địa bàn thành phố Tam Kỳ và các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Hiệp Đức hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên nguyên lý duy vật lịch sử của sử học Mác-xít, kết hợp hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp liên ngành và phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Thu thập, định lượng và phân nhóm toàn bộ danh sách các vị đỗ đạt trên văn bia theo khoa thi, học vị, đơn vị hành chính (tổng/làng) và ngạch trật quan trường.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đánh giá các dữ liệu lịch sử từ thư tịch cổ và văn bia để làm rõ vai trò, vị thế cùng những cống hiến của Nho sĩ Thăng Bình.
  • Phương pháp điền dã thực tế: Khảo sát hiện trạng hệ thống văn bia tại di tích Tiền hiền đình làng Hà Lam (thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình).
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu văn bản khắc trên bia đá với các bộ chính sử, địa chí triều Nguyễn và gia phả dòng họ để đính chính, làm sáng tỏ thông tin nhân vật.

Nguồn tư liệu thực hiện đề tài gồm:

  • Tư liệu văn bia Hán Nôm: Nguồn tài liệu chính yếu khai thác từ công trình "Bia văn thánh và một số văn bia Hán Nôm tại huyện Thăng Bình" do Ủy ban nhân dân huyện Thăng Bình xuất bản năm 2015.
  • Sử tịch và địa chí triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí (Tập 2), Đại Nam liệt truyện (Tập 4), Đồng Khánh địa dư chí, Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục, Tổng tập dư địa chí Việt Nam (Tập III).
  • Tài liệu nghiên cứu chuyên khảo: Các công trình về khoa cử và lịch sử Đàng Trong của Phan Khoang (Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 - 1777), Nguyễn Quang Thắng (Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Quảng Nam đất nước và nhân vật, Hà Đình Nguyễn Thuật - Tác phẩm), cùng các kỷ yếu hội thảo khoa học và lịch sử Đảng bộ địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vùng đất Thăng Bình, Quảng Nam và nho sĩ Thăng Bình trước triều Nguyễn

Chương 1 phác họa bức tranh toàn diện về tự nhiên, cư dân, lịch sử hành chính và truyền thống văn hóa - giáo dục của Thăng Bình từ thời tiền sử đến trước thời Nguyễn.

Thăng Bình nằm ở phía Đông tỉnh Quảng Nam, địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm ba tiểu vùng: bán sơn địa phía Tây (với các ngọn núi La Vang/Chóp Chài, Cẩm Yên, Hà Lam, Chử Dương, Xuân Mỹ, Gia Phúc, An Thái, Khánh Sơn, Lâm Phu), dải đồng bằng trung du hẹp ở giữa và vùng cồn cát ven biển phía Đông dài 25 km. Hệ thống thủy văn gồm hai tuyến sông huyết mạch: sông Ly Ly (dài 40 km, lưu vực 200 km²) và sông Trường Giang (dài 60 km chạy song song bờ biển, nối hạ lưu sông Thu Bồn với sông Tam Kỳ). Sông Trường Giang giữ vai trò trục giao thương đường thủy trọng yếu trước khi có đường bộ, hình thành nên mạng lưới chợ sầm uất (chợ Được, chợ Kế Xuyên, chợ Bến Đá). Khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa hai mùa khô - mưa rõ rệt, thiên tai bão lũ thường xuyên đã rèn luyện cho người dân bản lĩnh kiên cường, tính cách cương trực và tinh thần vượt khó.

Về mặt lịch sử và cư dân, vùng đất Thăng Bình từng là địa bàn của văn hóa Tiền Sa Huỳnh, Sa Huỳnh và vương quốc Champa. Năm 875, người Chăm chọn Đồng Dương (Thăng Bình) làm kinh đô Indrapura. Năm 1402, nhà Hồ sáp nhập vùng đất và lập châu Thăng; đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông ban "Chiếu Bình Chiêm", lập Đạo Thừa tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn (huyện Lê Giang thuộc phủ Thăng Hoa tương ứng với Thăng Bình ngày nay). Năm 1604, chúa Nguyễn Hoàng đổi Lê Giang thành huyện Lễ Dương. Dưới thời Thiệu Trị (1841), phủ Thăng Hoa đổi tên thành phủ Thăng Bình. Quá trình cộng cư lâu dài giữa người Việt di cư (chủ yếu từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) với người Chăm bản địa tạo nên sự tiếp biến văn hóa đặc sắc trong nông nghiệp (cải tiến cày Chăm, trồng lúa 3 vụ, khoai Trà Đỏa), ẩm thực (nước mắm) và tín ngưỡng (thờ Bà Chợ Được kết hợp giữa Nữ thần Pô Inư Nagar và thần mẫu người Việt).

Về giáo dục và khoa cử: Dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chế độ thi cử được tổ chức với các kỳ thi Chính đồ, Hoa văn, Thám phỏng, Tam ty nhằm tuyển chọn viên chức cai trị. Bước sang triều Nguyễn, chế độ giáo dục - khoa cử Nho học được chuẩn hóa mạnh mẽ từ thời Gia Long, Minh Mạng đến Tự Đức thông qua việc lập Quốc tử giám, xây dựng hệ thống trường công cấp tỉnh (quan Đốc học), cấp phủ (quan Giáo thụ), cấp huyện (quan Huấn đạo) và định lệ các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình.

Chương 2: Đội ngũ nho sĩ huyện Thăng Bình, Quảng Nam dưới triều Nguyễn qua tư liệu văn bia

Chương 2 tập trung khảo cứu hiện trạng nguồn tư liệu văn bia Văn thánh Thăng Bình và phân tích cơ cấu, quy mô, phẩm hàm cùng sự nghiệp của đội ngũ khoa bảng huyện Thăng Bình.

Văn thánh Thăng Bình được xây dựng năm 1856 tại làng Hà Lam. Năm 1895 (Thành Thái thứ 7), Phó bảng Nguyễn Thuật khởi xướng việc dựng văn bia ghi danh các bậc hiền tài. Quá trình lập bia do Tri phủ Lê Bá Hoan cùng Giáo thụ Nguyễn Trạc (Nguyễn Thai) khảo cứu và biên soạn, Tú tài Võ Vĩ viết chữ. Tổng thể có 9 tấm bia đá: 7 tấm ghi danh khoa bảng (từ bia số 2 đến bia số 8), 1 tấm ghi công thần và 1 tấm ghi tiết nghĩa phụ.

Dữ liệu văn bia ghi nhận từ khoa thi Quý Dậu (1813) dưới thời Gia Long đến khoa thi Mậu Ngọ (1918) thời Khải Định và khoa thi Tân học năm 1936, huyện Thăng Bình có tổng cộng 164 cá nhân đỗ đạt trong 183 lượt người, phân bố theo các học vị: 1 Tiến sĩ, 3 Phó bảng, 32 Cử nhân (trước gọi là Hương cống), 147 Tú tài (trước gọi là Sinh đồ) và 1 Tú tài Tân học.

STT Triều vua Khoa thi / Năm thi Tú tài (Sinh đồ) Cử nhân (Hương cống) Phó bảng Tiến sĩ Tổng cộng (lượt)
1 Gia Long Quý Dậu (1813), Kỷ Mão (1819) 5 1 0 0 6
2 Minh Mạng 9 khoa thi (1821 - 1840) 19 3 0 0 22
3 Thiệu Trị 5 khoa thi (1841 - 1847) 29 5 0 1 35
4 Tự Đức 17 khoa thi (1848 - 1882) 39 17 2 0 58
5 Kiến Phúc Giáp Thân (1884) 2 0 0 0 2
6 Đồng Khánh 3 khoa thi (1886 - 1888) 1 1 0 0 2
7 Thành Thái 7 khoa thi (1891 - 1906) 40 5 1 0 46
8 Duy Tân 3 khoa thi (1909 - 1915) 5 0 0 0 5
9 Khải Định Mậu Ngọ (1918) 5 0 0 0 5
10 Bảo Đại Khoa thi Tân học (1936) 2 (Tân học) 0 0 0 2
Tổng 48 khoa thi 147 32 3 1 183

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Quốc triều hương khoa lục và Bia văn thánh và các văn bia Hán Nôm huyện Thăng Bình.

Về phân bố không gian, số người đỗ đạt tập trung cao nhất tại các tổng ven trung tâm hành chính và kinh tế của huyện:

STT Tên tổng thời Nguyễn Địa bàn tương ứng hiện nay Số người đỗ Tỷ lệ (%)
1 Hưng Thạnh Hạ Bình Triều, Bình Hải, Bình Sa, Bình Nam, Quảng Phú (P. An Phú) 58 35,4
2 Phú Mỹ Trung Hà Lam, Bình Nguyên, Bình Phục, Bình Quý 35 21,3
3 An Thái Trung Bình Tú, Bình Trung, Bình An, Bình Quế 26 15,9
4 Đông An Thượng Hiệp Đức, Tiên Phước 12 7,3
5 Việt An Thượng Bình Trị, Bình Lâm, Bình Lãnh, Hiệp Đức, Việt An 12 7,3
6 An Thạnh Hạ Bình Giang, Duy Nghĩa, Duy Hải 11 6,7
7 Châu Đức Trung Bình Chánh, Bình Định, Bình Phú, Bình Lãnh 10 6,1
Tổng 164 100,0

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Bia văn thánh và các văn bia Hán Nôm huyện Thăng Bình.

Về phẩm hàm và chức quan cao nhất trong bộ máy quan trường, các Nho sĩ Thăng Bình đỗ đạt đã đảm nhiệm nhiều trọng trách từ trung ương đến địa phương:

STT Phẩm hàm Chức quan tiêu biểu Số người Tỷ lệ (%)
1 Tòng nhất phẩm Hiệp biện Đại học sĩ 1 3,6
2 Chánh tam phẩm Bố chánh sứ, Quang lộc Tự khanh 2 7,2
3 Tòng tam phẩm Hồng lô Tự khanh, Sơn phòng sứ 2 7,2
4 Chánh tứ phẩm Án sát sứ (3 người), An - Tĩnh đạo Giám sát Ngự sử (1 người) 4 14,2
5 Chánh ngũ phẩm Đốc học (1 người), Tri phủ (3 người), Nội các Thừa chỉ (1 người) 5 17,8
6 Tòng ngũ phẩm Hàn lâm viện Thị giảng 1 3,6
7 Chánh lục phẩm Hàn lâm viện Trứ tác 1 3,6

Đội ngũ Nho sĩ Thăng Bình đã có những đóng góp quan trọng trên các phương diện:

  • Chính trị - ngoại giao: Nhiều vị đại thần như Hà Đình Nguyễn Thuật tham gia triều chính, phụng mệnh đi sứ nước ngoài và giữ vững cương vị rường cột quốc gia.
  • Văn hóa - giáo dục: Tích cực tham gia trùng tu, mở rộng Văn thánh Thăng Bình, mở trường dạy học, đào tạo thế hệ kế cận và biên soạn các tài liệu địa chí, thơ văn.
  • Kinh tế - xã hội: Góp phần ổn định trật tự trị an, khai hoang lập ấp, đắp đập dẫn thủy nhập điền phục vụ đời sống nhân dân.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu: Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa chi tiết toàn bộ danh sách 164 nhà khoa bảng (với 183 lượt đỗ đạt) của huyện Thăng Bình dưới triều Nguyễn, bao gồm 1 Tiến sĩ, 3 Phó bảng, 32 Cử nhân và 147 Tú tài. Đề tài xác lập biểu đồ phân bố đỗ đạt theo dòng thời gian (đạt đỉnh cao vào thời Tự Đức với 58 lượt người, chiếm tỷ trọng cao nhất) và theo không gian hành chính (tổng Hưng Thạnh Hạ chiếm 35,4%, tổng Phú Mỹ Trung chiếm 21,3%).
  • Đóng góp của tác giả: Đây là công trình sử học đầu tiên tiến hành khảo sát một cách độc lập, toàn diện và có hệ thống về đội ngũ Nho sĩ huyện Thăng Bình dựa trên việc khai thác nguồn sử liệu văn bia tại di tích đình làng Hà Lam, kết hợp đối chiếu với chính sử triều Nguyễn (Quốc triều hương khoa lục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí). Khóa luận làm sáng tỏ vai trò, quy mô và đặc điểm của giới trí thức Nho học địa phương trong tiến trình lịch sử Quảng Nam thời cận đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tài liệu thành văn ghi chép riêng về giáo dục - khoa cử huyện Thăng Bình thời kỳ trước triều Nguyễn còn thiếu vắng; hiện trạng các tấm văn bia tại Văn thánh Thăng Bình đã trải qua nhiều biến động lịch sử và di dời cơ học, dẫn đến việc xác định niên đại chính xác của một số tấm bia (như bia số 7) gặp nhiều khó khăn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo cứu các nguồn tư liệu Hán Nôm phân tán trong nhân dân (gia phả các dòng họ khoa bảng như họ Nguyễn ở Phú Mỹ Trung, họ Nguyễn Văn ở An Thái Trung, văn cúng, sắc phong, trướng biểu) nhằm hoàn thiện đầy đủ tiểu sử và sự nghiệp của từng vị Tú tài, Cử nhân chưa được chính sử ghi chép chi tiết.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử, Cử nhân Lịch sử, Hán Nôm học và Văn hóa học khi nghiên cứu về lịch sử địa phương Quảng Nam, lịch sử giáo dục - khoa cử triều Nguyễn.
  • Các nhà nghiên cứu sử liệu học trong việc đối chiếu, giám định văn bản văn bia Hán Nôm với hệ thống chính sử triều Nguyễn.
  • Cơ quan quản lý văn hóa - giáo dục huyện Thăng Bình trong việc xây dựng hồ sơ bảo tồn di tích Văn thánh Thăng Bình, tôn vinh danh nhân và giáo dục truyền thống hiếu học cho thế hệ trẻ.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống 3 bảng thống kê khoa cử (Bảng 2.1, 2.2, 2.3) và phần phân tích lai lịch, nội dung văn bia Văn thánh Thăng Bình trong Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống văn bia Văn thánh Thăng Bình hiện được lưu giữ ở đâu và có quy mô bao nhiêu tấm bia?
Toàn bộ hệ thống văn bia Văn thánh Thăng Bình hiện được lưu giữ và bảo quản tại khuôn viên di tích Tiền hiền đình làng Hà Lam (thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình). Quy mô gồm 9 tấm bia đá: 7 tấm ghi danh các bậc khoa bảng (từ bia số 2 đến bia số 8), 1 tấm ghi danh các bậc công thần và 1 tấm khắc tên các bậc tiết nghĩa phụ.

2. Tổng số nhà khoa bảng huyện Thăng Bình được ghi danh trên văn bia thời Nguyễn là bao nhiêu người và cơ cấu học vị như thế nào?
Văn bia ghi nhận có 164 nhà khoa bảng đỗ đạt trong 183 lượt người từ khoa thi năm 1813 đến năm 1918 (và khoa thi Tân học 1936). Cơ cấu học vị gồm: 1 Tiến sĩ (0,51%), 3 Phó bảng (1,64%), 32 Cử nhân/Hương cống (17,5%), 147 Tú tài/Sinh đồ (80,3%) và 1 Tú tài Tân học.

3. Ai là người chủ trì khởi xướng việc lập hệ thống văn bia tại Văn thánh Thăng Bình và vào năm nào?
Việc lập văn bia được Phó bảng Nguyễn Thuật đứng ra khởi xướng và chỉ đạo vào năm Thành Thái thứ 7 (1895). Tri phủ Thăng Bình là Lê Bá Hoan cùng Giáo thụ Nguyễn Trạc (Nguyễn Thai) trực tiếp sưu tầm, biên soạn; Tú tài Võ Vĩ viết chữ và việc khắc dựng 6 tấm bia đầu tiên hoàn thành vào năm 1896.

4. Vì sao số lượng người đỗ đạt lại tập trung phần lớn ở các tổng Hưng Thạnh Hạ, Phú Mỹ Trung và An Thái Trung?
Ba tổng này chiếm trên 72% tổng số người đỗ đạt của huyện (Hưng Thạnh Hạ 35,4%, Phú Mỹ Trung 21,3%, An Thái Trung 15,9%) do nằm gần trung tâm hành chính của huyện (làng Hà Lam thuộc tổng Phú Mỹ Trung), có điều kiện kinh tế - thương mại phát triển, giao thông đường thủy và đường bộ thuận lợi, đồng thời có trường học Văn thánh đặt tại địa bàn giúp học trò dễ dàng tiếp cận giáo dục Nho học.

5. Giai đoạn nào dưới triều Nguyễn ghi nhận số lượng Nho sĩ Thăng Bình đỗ đạt cao nhất?
Thời vua Tự Đức (1848 - 1883) là giai đoạn đỗ đạt cao nhất của huyện Thăng Bình với 58 lượt người đỗ qua 17 khoa thi (gồm 39 Tú tài, 17 Cử nhân, 2 Phó bảng), do đây là giai đoạn triều đình tổ chức thi cử đều đặn, ban hành nhiều chính sách khuyến học và hệ thống trường lớp phủ huyện đã đi vào nề nếp ổn định.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Vũ đã cung cấp cái nhìn toàn diện và có căn cứ khoa học về đội ngũ Nho sĩ huyện Thăng Bình dưới triều Nguyễn qua việc khai thác hệ thống văn bia Văn thánh Hà Lam. Công trình đã lượng hóa chính xác 164 vị khoa bảng, phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa điều kiện địa - văn hóa với quy mô giáo dục khoa cử của địa phương. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ những cống hiến của Nho sĩ Thăng Bình đối với lịch sử dân tộc mà còn cung cấp cơ sở sử liệu tin cậy phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa và bồi dưỡng nhân tài trong giai đoạn hiện nay.