Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu trúc chức năng của da và mạch máu da vùng mặt 1.Cấu trúc chức năng của da Da là tổ chức khá phức tạp, kết hợp chặt chẽ với nhau thành các lớp tổ chức bao phủ mang tính chất chun dãn (về các phía), có tính nhớt, tính tạo hình, có các lớp biểu mô, các mô liên kết, các tuyến, lông và gốc lông, thớ cơ, tận cùng các dây thần kinh, lưới mạch máu và bạch mạch. Các tế bào biểu bì luôn luôn thay thế mới hoàn toàn trong 4-6 tuần. Như thế da là một trong các loại mô luôn sinh trưởng nhanh của cơ thể [4].
Da mặt có những đặc điểm riêng biệt và đặc biệt, là vùng da hở thường xuyên của cơ thể. Da mặt có hệ thống mạch máu, thần kinh phong phú, có nhiều vị trí có cấu trúc riêng, đặc biệt như mí mắt, các hốc tự nhiên, môi, tai… Da mặt là vùng da rất nhạy cảm, nó không những thể hiện sự thẩm mỹ mà còn dễ chịu tác động của các yếu tố môi trường như nhiệt độ, bức xạ, vi khuẩn, bụi bẩn… những yếu tố này hàng giây, hàng giờ làm thoái hoá và lão hoá da mặt [2], [7]. + Các chức năng cơ bản của da: Da là bộ phân tiếp xúc trực tiếp với môi trường nhiều nhất trong cơ thể, nó không chỉ là vỏ bọc bên ngoài cơ thể mà cấu trúc da còn đảm nhiệm nhiều chức năng : o Kiểm soát mất nhiệt và nước, cũng như ngăn chặn sự xâm nhập của các hóa chất và vi sinh vật không mong muốn. o Bảo vệ các cơ quan như: Thần kinh, mạch máu, xương, nội tạng trước các yếu tố có hại về sinh học, cơ học, hóa học và vật lý.
Cấu trúc da hình thành 4 từ các sợi collagen có tính chất đàn hồi giúp da chịu được những áp lực đặt lên da [11]. o Bài tiết: Tùy vào cơ địa mà tuyến mồ hôi bài tiết với cường độ khác nhau để điều hòa thân nhiệt và đào thải độc tố cho cơ thể. o Miễn dịch: trong cấu trúc da có các tế bào langerhan giúp kháng khuẩn tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể o Điều hòa thân nhiệt o Dự trữ nước o Cảm giác: Da là 1 trong 5 giác quan của con người. Da có khả năng nhạy cảm với nhiều áp lực, tiếp xúc, nhiệt độ và đau [34].
o Tổng hợp vitamin D. Cấu trúc và chức năng mạch máu vùng da mặt Các mạch máu có dạng ống, hợp thành một hệ thống kín, dẫn máu từ tim đến các cơ quan trong cơ thể và rồi trở về lại tim. Mạch máu gồm có ba loại là động mạch, tĩnh mạch và mao mạch. Mao mạch là những mạch rất nhỏ nối giữa động mạch và tĩnh mạch.
Thành mao mạch chỉ có một lớp tế bào nội mô, bên ngoài là màng đáy, giữa các tế bào này có những lỗ nhỏ để cho quá trình trao đổi chất giữa các tế bào và máu được thực hiện. Tại mao mạch, máu không qua liên tục mà từng đợt, mao mạch là nơi xảy ra sự trao đổi O2, CO2, chất dinh dưỡng giữa máu và các bộ phận qua ba cơ chế là cơ chế khuếch tán, cơ chế ẩm bào và cơ chế siêu lọc. Để đảm bảo chức năng này, máu lưu thông chậm lại trong mạng lưới mao mạch.000 triệu mao mạch và tổng diện tích trao đổi khoảng 500-700m2 [4], [64]. Cung cấp máu cho da vùng mặt đến từ các đám rối sâu nằm ở vùng hạ bì.
Một khi các mạch vào khoảng giữa mô dưới da và mô liên kết, chúng phân nhánh ra các nhánh phụ khác nhau. Các tiểu động mạch tăng dần cung cấp một đám rối dưới màng cứng và hình thành các vòng mao mạch trong lớp nhú bì. 5 Từ các mao mạch này, máu vào các tĩnh mạch chảy xuống các đám rối. Lưu lượng máu qua lớp bề mặt của lớp hạ bì được kiểm soát bởi các shunt động mạch có thể đóng vai trò hổ trợ cung cấp tưới máu [8].
Các dây thần kinh ngoại biên ảnh hưởng đến mô hình phân nhánh và biệt hóa mạch máu bằng cách tiết ra yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu [8], [43]. Các động mạch nhỏ của đám rối mạch máu sâu và các tiểu động mạch có trong lớp hạ bì có ba lớp: + Lớp trong: Là lớp tế bào nội mạc, tiếp xúc trực tiếp với máu, tiếp đến là lớp cơ bản và lớp mô đàn hồi, gọi chung là lớp đàn hồi trong. Lớp tế bào nội mạc lót ở mặt trong của hệ tim mạch (bao gồm tim và tất cả các mạch máu). + Lớp giữa: Là lớp dày nhất, bao gồm các tế bào cơ trơn và các sợi đàn hồi.
Cơ trơn lớp này được chi phối bởi hệ giao cảm nên có thể thay đổi đường kính. + Lớp ngoài: Chủ yếu gồm những sợi collagen và sợi đàn hồi, ở những động mạch vừa, một lớp sợi đàn hồi ngoài ngăn giữa hai lớp ngoài và lớp giữa. Lớp ngoài giúp nâng đỡ và bảo vệ mạch máu. Lớp giữa là lớp quyết định tính chất của động mạch, tùy theo từng tỷ lệ giữa sợi đàn hồi và tế bào cơ trơn, nhờ sự giãn của các sợi đàn hồi nên chúng có khả năng dự trữ năng lượng, giúp cho máu chảy liên tục.
Các động mạch vừa như là động mạch phân đến cơ quan, có thành dày hơn, chứa nhiều sợi cơ trơn và ít sợi đàn hồi, do đó chúng sẽ có khả năng co hoặc giãn rất lớn để giúp điều chỉnh lưu lượng máu đến cơ quan tùy theo nhu cầu của các cơ quan bộ phận [51]. Các mao mạch nằm trong lớp hạ bì có một lớp tế bào nội mô và khoảng liên bào. Mao mạch là một hệ thống vi mạch máu nối giữa tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch. Thành mao mạch được cấu tạo bằng 1 lớp tế bào nội mô, giữa các tế bào này có các lỗ nhỏ để cho quá trình trao đổi chất giữa tế bào và máu được thực hiện.
Hệ thống mạch máu trong cơ thể người có khoảng 10.000 triệu mao mạch với tổng diện tích trao đổi khoảng 500 - 700 m² [36]. 6 Dòng máu từ mao mạch đổ vào hệ thống mạch máu đầu tiên gọi là tiểu tĩnh mạch. Tiểu tĩnh mạch tập trung thành tĩnh mạch đổ máu về những tĩnh mạch lớn từ đó máu được dẫn trở về tim.Thành của tĩnh mạch mỏng hơn các động mạch và không có cấu trúc rõ ràng gồm ba lớp. Các tĩnh mạch gồm có các tế bào nội mô, khoảng liên bào và màng đáy.
Lớp áo trong của hệ tĩnh mạch có các van tĩnh mạch. Đó là những nếp chập đôi của lớp áo trong, có tác dụng cho máu chảy theo một chiều [51]. Đặc điểm lâm sàng giãn mạch vùng mặt 1. Đại cương Thuật ngữ giãn mạch được mô tả đầu tiên vào năm 1807 bởi Von Graf, là hiện tượng mạch máu giãn 0,1-1mm có thể thấy bằng mắt thường.
Giãn mạch được định nghĩa là mạch máu giãn thấy được trên da. Giãn mạch là sự giãn nở mạch máu bề mặt có nguồn gốc động mạch, tĩnh mạch hoặc mao mạch. Chúng xuất hiện dưới các hình dạng có màu đỏ, xanh hoặc tím trên da. Giãn động mạch có đường kính nhỏ hơn, xuất hiện màu đỏ tươi và không nhô lên trên bề mặt da.
Giãn tĩnh mạch là các mạch máu rộng hơn, màu xanh với các phần nhô ra thường xuyên trên bề mặt da, thường có đường kính lớn hơn 0,2mm [9], [15]. Giãn mao mạch thường là những tổn thương màu đỏ hoặc hồng, thường có đường kính nhỏ hơn 0,2mm, thường đối xứng hai bên, nhưng có thể giãn ra và chuyển sang màu tím hoặc theo thời gian do dòng chảy tĩnh mạch thứ phát làm tăng áp lực thủy tĩnh. Những tổn thương này thường gây ra những khiếm khuyết thẩm mỹ đáng chú ý trên da [26]. Giãn mao mạch mặt thường gặp nhiều nhất trên khuôn mặt là vùng mũi, vùng má và vùng cằm [74].
Dịch tễ hiện tượng giãn mạch Giãn mạch ảnh hưởng đến hàng triệu người trên thế giới. Giãn mạch xảy ra từ 15-20% dân số [17]. Khoảng một phần ba phụ nữ ở Hoa Kỳ có hiện tượng giãn mạch [47]. Giãn mạch xảy ra trong hầu hết các trường hợp thường gặp ở độ tuổi trung niên [16].
Nguyên nhân giãn mạch - Nguyên phát [29]: + Giãn mạch hình sao + Giãn mạch di truyền lành tính + Giãn mạch vùng mũi [74] + Nevus giãn mạch 1 bên, giãn mạch lan tỏa + Viêm mạch máu do collagen - Thứ phát do yếu tố vật lý [46]: + Do ánh nắng + Sau xạ trị + Sau chấn thương + Tăng áp lực tĩnh mạch cửa. - Bệnh da [60]: + Trứng cá đỏ + Ung thư tế bào đáy của da + U mạch giai đoạn thoái triển. 8 - Bệnh hệ thống [30], [46]: + Hội chứng Carcinoid + Bệnh lý liên quan đến tương bào + Bệnh mô liên kết, + Lupus đỏ + Viêm bì cơ + Hội chứng CREST + Nhiễm HIV - Rối loạn bẩm sinh và di truyền [65]: + Hội chứng Klippel-Trenaunay + Giãn mạch di truyền xuất huyết (HHT) [44] + Ataxia-telangiectasia + Hội chứng thiểu sản lông-phù bạch mạch-giãn mao mạch + Hội chứng Rombo, hội chứng Klinder, hội chứng Bloom, hội chứng Rothmund-Thomson + Poikiloderma với giảm bạch cầu hạt + Loạn sừng di truyền, khô da sắc tố, hội chứng Goltz, GM1- Gangliosidosis, thiếu men Prolidase. - Do thuốc: + Thuốc ức chế canxi + Dùng corticoid kéo dài, tiêm triamcinolone trong tổn thương [39], [48] - Các loại u [32]: + Sarcome, lymphoma tế bào T ở da + Lymphoma tế bào B ở nội mạch + U sùi dạng nấm.
Phân loại da và da mặt 1. Phân loại da theo Fitzpatrick Được phát triển vào năm 1975, hệ thống phân loại da Fitzpatrick dựa trên số lượng các sắc tố trên da và phản ứng của da với ánh nắng mặt trời. Phân loại da theo Fitzpatrick [40] Loại Màu da Màu tóc Màu mắt Phản ứng với ASMT Xanh da trời, Đỏ hoặc Luôn có tàn nhang, luôn I Ngà xám, xanh lá vàng nhạt cháy nắng, không sạm da cây nhạt Sáng màu Xanh da trời, Thường tàn nhang, cháy II hoặc xanh Vàng lá cây, xám nắng, hiếm sạm da xám Nâu sẫm Nâu hoặc màu Có thể tàn nhang, có thể III Vàng hoặc nhạt nâu nhạt cháy nắng, có thể sạm da Không tàn nhang, hiếm IV Nâu nhạt Nâu đậm Nâu đậm cháy nắng, sạm da Nâu đậm Nâu đậm hoặc đen đến đen Nâu đậm đến Ít tàn nhang, không cháy V đen nắng và luôn sạm da Không tàn nhang, không VI Đen Đen Nâu đen cháy nắng, da luôn tối màu 1.