Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về bentonit 1. Thành phần và cấu trúc của bentonit Khoáng sét là vật liệu tự nhiên được hình thành bằng cách phá vỡ và phân hủy hóa học của đất đá núi lửa với kết cấu mịn, kích thước hạt nhỏ hơn 0,002 mm. Cấu trúc của khoáng sét được hình thành trên cơ sở các đơn vị tứ diện SiO4 và bát diện AlO6 với độ dày mỗi lớp khoảng 9,2 ÷ 9,6Å.
Khoáng sét có thể được phân nhóm dựa vào tỉ lệ và kiểu liên kết giữa các đơn vị cấu trúc tứ diện và bát diện. Nếu chỉ có một nhóm tứ diện SiO4 và một nhóm bát diện AlO6 trong mỗi lớp thì sét có cấu trúc kiểu 1:1, được gọi là kaolinit. Trường hợp lớp bát diện AlO6 bị kẹp giữa hai lớp tứ diện SiO4 thì khoáng sét có cấu trúc kiểu 2:1 hay còn gọi là silicat. Các silicat bao gồm mica, smectit, vermiculit và chlorit.
Nhóm smectit được chia thành các loại bentonit (thành phần chính là montmorillonit - MMT), nontronit, saponit và hectorit. Trong số các silicat thì MMT được nghiên cứu nhiều hơn cả do có sẵn trong tự nhiên và ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực. Công thức đơn giản của MMT là Al2O3.nH2O ứng với nửa đơn vị tế bào, trong trường hợp lí tưởng công thức của MMT là Si8Al4O20(OH)4.nH2O ứng với một đơn vị tế bào. Tùy vào nguồn gốc mà thành phần của bentonit có sự thay đổi [2], [19], [20], [23].
Đơn vị cấu trúc tứ diện SiO4 (a), bát diện AlO6 (b), cấu trúc tinh thể của montmorilonit (c) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Sự khuyết tật trong mạng lưới tinh thể và sự thay thế đồng hình của các cation kim loại hóa trị II như Fe2+, Mg2+,… với Al3+ và Al3+ với Si4+ làm cho khoáng sét tích điện âm, do đó MMT đã tiếp nhận các cation kim loại từ môi trường vào để trung hòa điện tích trong mạng. Việc tiếp nhận các cation kim loại này phụ thuộc vào lượng điện tích dương thiếu hụt trong mạng tinh thể và kích thước của cation. Khi được hấp thụ vào mạng chỉ có một phần nhỏ các cation kim loại (thường là Li+, Na+, K+) nằm ở mặt mạng, phần lớn chúng nằm ở vùng không gian giữa các lớp và chịu tác động của lực hút tĩnh điện của mặt mạng mang điện tích âm [11], [19], [20], [23]. Tính chất và ứng dụng của bentonit MMT được cấu trúc bởi các lớp aluminosilicat liên kết với nhau bằng liên kết hiđro, có sự bù trừ điện tích giữa các lớp, tương đối xốp nên bentonit có các khả năng: hấp phụ, trương nở, trao đổi cation, kết dính, nhớt dẻo và trơ,.
Trong đó quan trọng nhất là khả năng hấp phụ, trương nở và trao đổi ion. Khả năng hấp phụ Diện tích bề mặt bentonit được xác định bằng tổng diện tích bề mặt ngoài và diện tích bề mặt trong. Diện tích bề mặt ngoài phụ thuộc vào kích thước hạt, diện tích bề mặt trong là khoảng không gian giữa các lớp. Với kích thước hạt nhỏ hơn 2µm, cấu trúc mạng tinh thể dạng lớp, độ phân tán cao nên bentonit có diện tích bề mặt rất lớn (diện tích bề mặt của bentonit khoảng 800 m 2/g, trong khi đó diện tích bề mặt của silicagen là 300 ÷ 600m 2/g, của cao lanh khoảng 15 ÷ 20m2/g) [19].
Cũng giống như các chất hấp phụ khác, bentonit có cả khả năng hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học tuy nhiên hấp phụ vật lí cao hơn. Tính chất hấp phụ của bentonit được quyết định bởi đặc tính bề mặt và cấu trúc lớp. Cấu trúc xốp ảnh hưởng rất lớn tới khả năng hấp phụ, đặc trưng là tính chọn lọc hấp phụ, nó chỉ có thể hấp phụ những cấu tử có đường kính nhỏ hơn lỗ xốp. Sự hấp phụ bề mặt trong của bentonit có thể xảy ra với các ion vô cơ, các chất hoặc ion hữu cơ phân cực.
Các chất hữu cơ hoặc ion phân cực có kích thước và khối lượng nhỏ bị hấp phụ bằng cách tạo liên kết trực tiếp (hoặc gián tiếp qua nước) với cation trao đổi, các trung tâm mang điện trên bề mặt bentonit. Nếu các chất hữu cơ có kích thước và khối lượng lớn chúng có thể liên kết trực tiếp vào vị trí oxi ở đáy tứ diện bằng lực liên kết Van-đec-van hoặc liên kết hiđro. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Sự hấp phụ các chất hữu cơ không phân cực, polime và vi khuẩn chỉ xảy ra ở bề mặt ngoài của bentonit [2]. Bentonit-Ca hấp phụ nước lên đến 100% trọng lượng khô của nó và khoảng 80% trọng lượng với dầu.
Dựa trên khả năng hấp phụ tốt và tính chọn lọc hấp phụ nên bentonit được sử dụng làm chất hấp phụ. Một lượng lớn bentonit được sử dụng trong quá trình lọc dầu mỏ, tinh chế benzen và các sản phẩm khác trong công nghiệp hóa than. Bentonit hoạt hóa được dùng làm chất hấp phụ trong công nghiệp chế biến rượu vang và các chế phẩm từ rượu vang đã làm giảm 30 ÷ 40% chi phí mà không ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Tại Đức, MMT được sử dụng để hấp phụ các chất độc, kiểm soát nồng độ axit trong dạ dày và được dùng một thời gian dài trong quá trình làm thuốc mỡ và kem dưỡng da [18].
Khả năng trương nở Khi hòa tan trong nước MMT dễ dàng trương nở và phân tán thành những hạt nhỏ cỡ micromet và dừng lại ở trạng thái lỏng lẻo với lực hút Van-đec-van. Khả năng trương nở của bentonit là do nước, các phân tử phân cực hoặc cation bị hấp thụ vào bên trong lớp giữa làm tăng chiều dày lớp cấu trúc. Thông thường khoảng cách này tăng lên từ 12,5 ÷ 20Å. Khoảng cách giữa các mặt mạng (d001) tăng là do sự hiđrat hóa các cation có trong lớp giữa.
Lớp giữa bentonit sau khi bị hiđrat hóa Lượng nước bị hấp thụ phụ thuộc vào khoáng sét, điện tích, khả năng hiđrat hóa của cation. Bentonit bị thiếu hụt điện tích dương càng nhiều, cation có điện tích lớn thì mức độ hiđrat hóa xảy ra càng mạnh và làm cho khoảng cách giữa 2 mặt mạng tăng cao. Bentonit có thể trương nở lên 15 lần so với thể tích của nó để tạo thành huyền phù bentonit [3], [4], [19]. Ví dụ, ion Na+ khi bị hiđrat hóa khoảng cách giữa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn hai lớp sét tăng từ 9,2 tới ít nhất 17Å, trong khi đó ion Ca2+ khi bị hiđrat hóa khoảng cách giữa hai lớp sét chỉ tăng từ 12,1 ÷ 17Å [2].
Khả năng trao đổi ion Khả năng trao đổi ion là một trong ba tính chất quan trọng của bentonit, khả năng này là do trên bề mặt các lớp sét có các trung tâm (O, OH) mang điện tích âm và do sự thay thế đồng hình của các cation. Đối với bentonit thì sự thay thế đồng hình chủ yếu xảy ra ở lớp bát diện và giữa hai lớp tứ diện, liên kết giữa cation và bề mặt sét là liên kết yếu. Trong môi trường có các cation khác thì các cation ngoài môi trường có thể thay thế vị trí của cation trong lớp giữa [2]. Quá trình trao đổi cation trong dung dịch của MMT Dung lượng trao đổi ion (CEC) đặc trưng cho khả năng trao đổi cation của bentonit.
CEC là tổng số các cation trao đổi trong một trọng lượng đất nhất định và được diễn tả bằng milliequivalent/100g đất (meq/100g). CEC diễn tả tổng số các cation mà bentonit có thể hấp thụ và trao đổi với môi trường [23]. Nếu biết phân tử khối M và giá trị điện tích lớp của bentonit thì dung lượng trao đổi cation được tính bằng công thức: CEC = 105ζ/M (meq/100g) ζ : điện tích tổng cộng của các lớp. Nếu số lượng điện tích âm càng lớn, số lượng cation trao đổi càng nhiều thì dung lượng trao đổi ion càng lớn.
CEC phụ thuộc vào nồng độ và pH dung dịch, CEC của MMT tăng khi pH của dung dịch lớn hơn hoặc bằng 6. Ở các khoáng MMT độ lớn của CEC từ 80 ÷ 150 meq, gần tương đương với độ dư thừa điện tích âm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Việc thực hiện trao đổi cation của dung dịch và cation của khoáng sét thành 5 giai đoạn: - Sự di chuyển của cation thay thế từ dung dịch tới bề mặt của khoáng sét. - Sự di chuyển của cation thay thế của khoáng sét tới điểm trao đổi.
- Phản ứng trao đổi cation xảy ra. - Sự di chuyển của cation được thay thế từ điểm trao đổi vào khoáng sét. - Sự di chuyển của ion bị thay thế từ điểm trao đổi ra ngoài dung dịch. Đặc tính hóa học của các khoáng sét còn gây nên sự chọn lọc trao đổi cation.
Điều này thể hiện qua dãy hấp thụ các cation của các khoáng sét khác nhau: MMT: Li+ < Na+ < K+ < H+ < Rb+ <Mg2+ < Ca2+ = Sr2+< Ba2+ Kaolinit: Li+ < Na+ < H+ < K+ < Rb+ <Mg2+ < Ca2+ = Sr2+< Ba2+ Khả năng trao đổi ion của bentonit phụ thuộc vào bán kính, điện tích, mức độ hiđrat hóa của cation: Quá trình hiđrat hóa cation ở lớp giữa làm khoảng cách giữa hai mặt mạng tăng lên, lực hút tĩnh điện giữa mặt mạng và cation giảm đo đó khả năng trao đổi cation với môi trường tăng lên. Sự khác nhau về kích thước của các cation cũng gây nên sự thay đổi đáng kể khoảng cách d001, các cation có kích thước cồng kềnh làm tăng khoảng cách d001 và ngược lại. Cation hoá trị thấp dễ trao đổi hơn cation hoá trị cao: M+> M2+ > M3+. Đối với cation có cùng hoá trị bán kính càng nhỏ thì khả năng trao đổi càng lớn, có thể sắp xếp theo trật tự sau: Li+> Na+> K+> Mg2+> Ca2+> Fe2+> Al3+.
Nhờ khả năng trao đổi cation nên bentonit được sử dụng điều chế sét hữu cơ, ngoài ra còn được sử dụng trong các quy trình xử lí nước thải, đặc biệt là nước bị ô nhiễm ion kim loại nặng như: Ni2+, Cr3+,. ô nhiễm các chất độc hữu cơ, chất thải nhà máy giấy [7], [18]. Một số tính chất và ứng dụng khác của bentonit Tính trơ: Bentonit bền và trơ về mặt hóa học nên được sử dụng làm chất độn trong dược phẩm, thức ăn gia súc, mỹ phẩm, chất lọc, chất tẩy màu cho bia, rượu vang, mật ong [2], [3], [18]. Việc sử dụng bentonit trong vài thập kỉ gần đây cũng làm thay đổi đáng kể ngành công nghiệp giấy.
Trước kia, giấy thường chứa xấp xỉ 50% xenlulozơ, hàm lượng kaolin nguyên chất trong giấy không thể vượt quá 45%.