ĐẶT VẤN ĐỀ Chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume.) phân bố rộng rãi ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tại Phú Thọ Việt Nam, chè vằng được trồng phổ biến do điều kiện khí hậu phù hợp. Chè vằng được sử dụng rộng rãi với các công dụng như: lợi sữa, chữa áp xe vú, chống ghẻ lở… [10], [13]. Những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về chè vằng như phân lập ra các hoạt chất nhóm flavonoid, glycosid, steroid,… Bên cạnh đó là những tác dụng dược lý đã được chứng minh là tác dụng chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống ung thư… Kaempferol là một hợp chất flavonoid đã được chứng minh có trong chè vằng và có liên quan mật thiết đến tác dụng chống oxy hóa của chè vằng.
Hàm lượng kaempferol đã được xác định có trong lá chè vằng khoảng 0,07%. Hoạt chất này được cho là có tiềm năng làm chất đối chiếu trong kiểm nghiệm thuốc [12]. Hiện nay, điều chế cao với hàm lượng hoạt chất cao đang là xu hướng phát triển của công nghệ dược phẩm. Quá trình điều chế cao cần phải xác định được các thông số trong quá trình chiết xuất để tối ưu được hàm lượng hoạt chất.
Bên cạnh đó, phương pháp hỏa chế trong y học cổ truyền được cho là làm thay đổi thành phần các chất trong dược liệu do đó làm tăng hoặc thay đổi tác dụng. Việc áp dụng phương pháp hỏa chế vào quá trình điều chế cao là một hướng nghiên cứu cần được quan tâm. Với các lý do trên, đề tài “Nghiên cứu điều chế cao đặc giàu kaempferol từ chè vằng Phú Thọ” được thực hiện với hai mục tiêu: 1. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng và lựa chọn điều kiện xử lý dược liệu tạo cao đặc lá chè vằng Phú Thọ giàu kaempferol.
Điều chế cao đặc giàu kaempferol từ lá cây chè vằng Phú Thọ quy mô 50g/mẻ dựa trên điều kiện xử lý dược liệu đã khảo sát. Tổng quan về cây Chè vằng 1. Tên khoa học và vị trí phân loại - Tên khoa học: Jasminum subtriplinerve Blume [13]. - Tên đồng nghĩa: Jasminum nervosum [26].
- Tên khác: Vằng, vằng sẻ, vằng lá nhỏ, lài 3 gân [13]. - Theo hệ thống phân loại của Takhtajan trong “Flowering Plants” (2009) [27], chè vằng thuộc: Phân giới thực vật bậc cao Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ Nhài (Oleales) Họ Nhài (Oleaceae) Chi Nhài (Jasminum L. Đặc điểm thực vật Cây nhỏ, mọc thành bụi. Cành mảnh, vươn dài.
Lá mọc đối, hình bầu dục – mũi mác, gốc tròn, đầu thuôn thành mũi nhọn, hai mặt nhẵn gần như cùng màu, mặt trên bóng, 3 gân tỏa từ gốc, những lá gần cụm hoa nhỏ dần trông như những lá bắc, cuống ngắn. Cụm hoa mọc ở đầu cành thành chùy, gồm 7 – 9 hoa màu trắng: lá bắc hình dùi, đài hoa có ống ngắn, 8 – 10 thùy rất hẹp và nhọn, tràng có ống dài phình lên ở đầu, 8 - 10 cánh hoa hẹp, nhị đính ở hông tràng. Quả mọng, khi chín màu đen. Mùa hoa: tháng 3 – 4; mùa quả: tháng 5 – 6 [13].
Phân bố, sinh thái Về phân bố: Chè vằng phân bố phổ biến và khá tập trung ở khu vực các nước Đông Nam Á và Nam Á. Ngoài ra, cây cũng gặp cả ở các tỉnh phía nam Trung Quốc và đảo Hải Nam [13]. Ở Việt Nam, chè vằng có rải rác ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng núi thấp, trung du và cả đồng bằng. Không thấy cây mọc ở vùng núi cao trên 1500m [13].
Cây gặp nhiều từ Lào Cai, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, qua Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng tới Khánh Hòa [5]. Về sinh thái: Chè vằng là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, nhất là thời kỳ cây còn nhỏ, thường mọc lần trong các lùm bụi ở ven đồi, bờ nương rẫy và quanh làng bản. Cây 2 mọc nơi đất ẩm, sinh trưởng mạnh hơn cây ở vùng đồi khô hạn. Chỉ những cây mọc trùm lên các cây bụi khác, được chiếu sáng đầy đủ mới thấy có nhiều hoa quả.
Trong tự nhiên thường gặp nhiều cây con mọc từ hạt xung quanh gốc cây mẹ. Sau khi bị chặt phá nhiều lần, phần thân, cành còn lại của chè vằng đều có khả năng tái sinh nhiều chồi [13]. Bộ phận dùng Cành lá, thu hái quanh năm, phơi khô [13]. Tổng quan về lá chè vằng 1.
Thành phần hóa học Thành phần hóa học trong chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume ) gồm các nhóm chất: flavonoid, glycosid, acid phenolic, steroid, tinh dầu và các nhóm khác. Nhóm flavonoid Trong cành lá cây chè vằng xác định có các hợp chất flavonoid như: rutin, isoquercitrin, astragalin, nicotiflorin [6], [7], [8], kaempferol [12]. Rutin Kaempferol Isoquercetrin Astragalin 3 Nicotiflorin Hình 1. Công thức hóa học của các hợp chất flavonoid trong chè vằng 1.
Glycosid Các phenylethanoid glycosid được tìm thấy trong lá chè vằng như: verbascosid [6], isoverbascosid, apiosylverbascosid [19]. Lá và cành chè vằng thu hái tại Thái Nguyên đã được phân lập ra các hợp chất terpen glycosid bao gồm: anatoliosid A, 6′′′-Epi-anatoliosid A, chevangin A, chevangin B, 6-Epi-chevangin B, chevangin C, chevangin D [20]. Các phenylpropanoid glycosid được xác định có trong chè vằng, bao gồm 6'-O- menthiafoloylverbascosid [19]. Verbascosid Isoverbascosid 4 Apiosylverbascosid Hình 1.
Công thức hóa học của 1 số hợp chất glycosid trong chè vằng 1. Triterpenoid Các hợp chất triterpenenoid được tìm thấy trong lá chè vằng bao gồm: acid 3β- acetyl oleanolic, lup-20-en-3β-ol [18], acid oleanolic, acid betulinic [16], acid acetyloleanolic, acid 2α-hydroxy-oleanolic [30]. Acid oleanolic Acid betulinic Hình 1. Công thức hóa học của một số triterpenoid trong chè vằng 1.
Acid phenolic Acid galic, acid protocatechuic được xác định có trong cành và lá chè vằng [11]. Acid galic Acid protocatechuic Hình 1. Công thức hóa học của một số acid phenolic trong chè vằng 5 1. Steroid Một số hợp chất steroid được tìm thấy trong là và cành chè vằng như stigmast-5- en-3β-ol [18], β-Sitosterol, stigmasterol [16], β-daucosterol, astaraxerol, taraxerone [30].
Công thức một số hợp chất sterol trong chè vằng 1. Tinh dầu Lá chè vằng có chứa tinh dầu. Các thành phần trong tinh dầu được tìm thấy là: linalool, α-terpineol, geraniol, cis-linalool oxid [17]. Nhóm khác Ngoài ra lá chè vằng chứa alcaloid, nhựa [13].
Tuy nhiên vẫn còn thiếu các nghiên cứu tìm ra các hợp chất hóa học thuộc chất này. Công thức của một số tinh dầu trong chè vằng 1. Tác dụng sinh học Chè vằng đã được chứng minh có các tác dụng dược lý sau: chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống ung thư,. Tác dụng chống oxy hóa Năm 2008, Đái Huệ Ngân và các cộng sự đã xác định được dịch chiết ethyl acetat thân và lá chè vằng ở nồng độ 200 μg/mL có tác dụng chống oxy hóa mạnh thông qua thử nghiệm thu dọn gốc tự do DPPH [18].
Năm 2012, Nguyễn Thị Thanh Mai và các cộng sự đã chứng minh cao chloroform, cao ethyl acetat, cao n-butanol đều thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa, trong đó cao ethyl acetat thể hiện hoạt tính chống oxy hóa cao nhất. Có 3 hợp chất tinh khiết gồm acid 3,4,5- trihidroxibenzoic, acid 3,4-dihidroxibenzoic và verbascosid được phân lập từ cây Vằng sẻ đều có tác dụng chống oxy hóa, trong đó verbascosid thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa mạnh hơn cả chất chuẩn quercetin. Năm 2019, Triệu Tuấn Anh và cộng sự đã thử hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết giàu polyphenol. Kết quả cho thấy dịch chiết có thể loại bỏ được 46,11% gốc tự do DPPH (30 μg/mL) ở nồng độ 10,000 μg/ml [29].
Tác dụng kháng khuẩn Năm 2008, Đái Huệ Ngân và các cộng sự đã chứng minh dịch chiết ether dầu hỏa có tác dụng ức chế B. subtilis với nồng độ ức chế tối thiểu MIC = 100 μg/mL, các dịch chiết ethyl acetat và ethanol ức chế S. aureus với giá trị MIC = 200 μg/mL và chiết xuất methanol ức chế E. coli với giá trị MIC = 200 μg/mL, dịch chiết nước không có khả năng ức chế 2 vi khuẩn ở nồng độ dưới 200 μg/mL.
Các dịch chiết trên không cho thấy bất kỳ tác dụng ức chế nào đối với vi nấm [18]. Năm 2013, Nguyễn Đăng Minh Chánh và cộng sự đã chứng minh dịch chiết methanol lá có khả năng kháng khuẩn với loài Rhizoctonia solani [22]. Bệnh viện Thái Bình có làm kháng sinh đồ so sánh với penixilin 1 đơn vị quốc tế trong 1ml và strptomycin 20γ trong 1ml, cloroxit 50γ trong 1ml và sulfamid thì thấy dây chè 7 vằng có tác dụng kháng sinh mạnh hơn các thuốc trên đối với tụ cầu khuẩn (Staphyllococcus) và liên cầu khuẩn tan huyết (Streptococcus hemolytique) [10]. Tác dụng chống ung thư Năm 2008, Đái Huệ Ngân và các cộng sự đã chứng minh dịch chiết ether dầu hỏa từ thân và lá chè vằng có tác dụng gây độc tế bào in vitro trên cả hai dòng tế bào ung thư ở người là Hep-G2 và RD với giá trị IC50 lần lượt là 19,2 và 20,0 μg/mL [18].
Hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase Năm 2022, Lê Minh Ngọc và cộng sự đã đánh giá khả năng ức chế α-glucosidase trên in vitro và in silico của cao chiết lá vằng. Kết quả cho thấy cao phân đoạn n-hexan và EtOAc có tác dụng ức chế α-glucosidase mạnh với giá trị IC50 lần lượt là 7,27 ± 0,71 mg/mL và 7,42 ± 0,95 mg/mL. Cao chiết tổng, phân đoạn n-BuOH và phân đoạn nước không thể hiện tác dụng ức chế α-glucosidase. Các hợp chất rutin, isoverbascosid, astragalin, isoquercitrin, verascosid, stirysterol, nicotiflorin và chevangin B có thể đóng một vai trò quan trọng trong tác dụng sinh học này [21].
Giảm đau, chống viêm và hạ acid uric, lipid máu Năm 2021, Đỗ Thị Hồng Tươi và cộng sự đã thử nghiệm tác dụng giảm đau, chống viêm và hạ axit uric máu của chiết xuất ethanol 50% từ Jasminum subtriplinerve Blume trên chuột nhắt với liều 800 và 120mg/kg cân nặng. Kết quả cho thấy không có dấu hiệu ngộ độc ở chuột được cho uống với liều tối đa là 20 g dịch chiết/kg cân nặng. Chiết xuất này có tác dụng giảm đau và hạ axit uric máu mãn tính ở liều uống 800 mg/kg ở chuột [28]. Năm 2023, Phạm Hồng Minh và cộng sự đã trên chuột.
Kết quả cho thấy cao chiết lá chè vằng ở các liều lập lại 18 mg/kg/ngày và 54 mg/kg/ngày có tính an toàn sau 90 ngày cho uống. Cao chiết lá chè vằng không ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể, các thông số tạo máu, tổn thương tế bào gan hoặc chức năng gan và thận ở chuột thí nghiệm. Về tác dụng hạ lipid máu, cao chiết lá chè vằng ở liều 36 mg/kg/ngày và 108 mg/kg/ngày làm giảm rõ rệt các chỉ số lipid trong máu (cholesterol toàn phần, triglycerid, non-HDL- C) sau 7 ngày uống trên mô hình gây rối loạn lipid máu nội sinh gây bởi poloxamer-407 ở chuột nhắt Swiss [24].