ĐẶT VẤN ĐỀ Trong hai thập kỷ qua, sự gia tăng dân số chóng mặt, tốc độ đô thị hóa quá nhanh và sự phát triển kinh tế xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu thủy sản trên toàn cầu không ngừng tăng cao với tốc độ tăng hàng năm đạt 4,3%. Số liệu của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) cho thấy, mức tiêu thụ thủy sản bình quân theo đầu người trên thế giới liên tục tăng cao, từ 11,8 kg/người/năm (năm 1981) lên đến 16,8 kg/người/năm (năm 2006). Cũng theo dự báo của tổ chức này, mức tiêu thụ thủy sản trên thị trường thế giới năm 2015 có thể lên đến 19,1 kg/người/năm và 19 – 20 kg/người/năm vào năm 2030.com, cuối năm 2012, Hiệp hội Nhà hàng Quốc gia Mỹ đã công bố kết quả của cuộc khảo sát “cái gì nóng trong năm 2013” và thủy sản xuất hiện hai lần trong top 10 và một lần nữa trong top 20. Cụ thể, thủy sản xuất hiện hai lần ở vị trí số 9 trên danh sách thủy sản bền vững và vị trí số 13 trên danh sách cá phi truyền thống.
Thủy sản vẫn là mặt hàng tiếp tục được yêu thích do giá cả hợp lý và tốt cho sức khỏe.Cuộc thăm dò ý kiến từ hơn 1.800 đầu bếp chuyên nghiệp ở Mỹ cũng cho thấy, thủy sản sẽ tiếp tục là xu hướng nóng nhất trên thực đơn của các nhà hàng trong năm 2013.Tại Anh, Công ty tư vấn dịch vụ thực phẩm Technomic’s MenuMonitor cho biết, người tiêu dùng nước Anh ngày càng quan tâm đến thủy sản, đặc biệt là thủy sản bền vững bởi tốt cho sức khỏe và giá cả phải chăng. Hòa với tình hình chung của thế giới, nhu cầu tiêu thụ thủy sản nội địa cũng không ngừng tăng trong những năm gần đây.Cụ thể là với 90 triệu dân, mức tiêu thụ thủy sản nước ta đã lên đến 27 kg/người/năm( theo số liệu điều tra năm 2014).Trong giai đoạn 2009 - 2013, chế biến thủy sản tiêu thụ nội địa có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh về sản lượng cũng như giá trị. Sản lượng các sản phẩm nội địa tăng lên từ 424.000 tấn vào năm 2013, bình quân tăng 5,5%/năm. Về giá trị, tăng từ 8.417 tỷ đồng lên 13.146 tỷ đồng, bình quân tăng 13%/năm.
Những con số không biết nói dối, và nó cho thấy rằng sự tăng nhanh về giá trị so với sản lượng là do các sản phẩm thủy sản chế biến nội địa ngày càng đa dạng về chủng loại, chất lượng được nâng cao, đồng thời còn do xu thế giá các 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mặt hàng thủy sản cũng không ngừng tăng. Nằm trong khu vực nhiệt đới cận xích đạo, nước ta có một thủy vực nước ngọt lớn, phân bố rộng khắp, cộng với nhu cầu thị trường, cơ cấu nghề nghiệp rất thích hợp phát triển nghề nuôi cá nước ngọt. Song hành với nó cũng là vô vàn thách thức lớn xuất phát từ việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nuôi trồng thủy sản.Trong đó một vấn đề lớn nổi lên là dịch bệnh trên ĐVTS cũng ngày một phức tạp. Cá chép là một loài cá nước ngọt truyền thống được thị trường yêu thích và nhận được sự quan tâm rất lớn từ người nuôi.
Trên cá chép có xuất hiện rất nhiều loại bệnh trong suốt quá trình ương nuôi, sản xuất giống. Một trong số đó là bệnh ký sinh trùng do vi bào tử sợi (Myxobolus sp. Trong vòng đời của cá chép, vi bào tử sợi (Myxobolus sp.) thường xuất hiện nhất ở giai đoạn giống gây kênh mang cá. Tuy nhiên, nó cũng xuất hiện ở cả giai đoạn cá trưởng thành và gây ảnh hưởng rất lớn đến con vật.
Liệu trình điều trị vi bào tử sợi ký sinh trên cá chép (Myxobolus sp.) đã được xây dựng cụ thể bởi các nhà khoa học, và cũng có nhiều loại thuốc thủy sản điều trị được ra đời từ đó. Hiệu quả mang lại của các loại thuốc cần phải được đánh giá thực tế để đưa ra lựa chọn hợp lý trong quá trình điều trị bệnh. Trước thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của TS: KIM VĂN VẠN, PGS,TS: PHẠM NGỌC THẠCH. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu dịch tễ học bệnh thích bào tử trùng (Myxobolus sp.) ký sinh trên cá chép và thử nghiệm thuốc điều trị”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI - Nghiên cứu đưa ra tình hình nhiễm và tác hại của bệnh do thích bào tử trùng gây ra trên cá chép. - Đề xuất biện pháp phòng bệnh và thử nghiệm thuốc điều trị có hiệu quả đối với bệnh do thích bào tử trùng gây ra trên cá chép. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ CHÉP 2.1 Vị trí phân loại Thành phần loài trong họ cá chép ở nước ta rất phong phú, đa dạng và độc đáo, rất đặc trưng cho vùng nhiệt đới gió mùa. Cho tới nay họ cá chép ở nước ta có 306 loài, 9 phân loài thuộc 103 giống và 11 phân họ (chiếm 38,5%) số loài cá nước ngọt của Việt Nam (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2001). Theo tài liệu phân loại của FAO (1974), cá chép thuộc hệ thống phân loại sau: Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Cypriniformes Họ: Cyprinidae Giống: Cyprinus Loài: Cyprinus carpio Linnaeus, 1758 2.2 Đặc điểm về hình thái của cá Chép Cá chép có hình dạng cơ thể hình thoi, mình dây, dẹp bên, bụng khá tròn. Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng.
Đầu cá thuôn, cân đối. Chiều dài cơ thể gấp 2,8 - 3,5 lần chiều cao và 3,4 – 4,3 chiều dài đầu. Mầu từ phía trước vây lưng hơi xẫm. Cá Chép có hai đôi râu: Râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt.
Mắt vừa phải ở hai bên, thiên về phía trên của đầu. Khoảng cách hai mắt rộng và lồi. Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng; rạch miệng chưa tới viền trước mắt. Hàm dưới hơi dài hơn hàm 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Môi dưới phát triển hơn môi trên. Màng mang rộng gắn liền với eo. Lược mang ngắn, thưa. Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ.
Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc và phía sau có răng cưa. Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó. Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hóa xương rắn chắc và phía sau có răng cưa. Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn.
Vây đuôi phân thùy sâu, hai thùy hơi dầy và tương đối bằng nhau. Vẩy tròn lớn. Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi. Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài.
Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc. Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen. Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân, 2001).3 Đặc điểm phân bố của cá chép Trên thế giới cá chép phân bố rộng khắp các vùng trên toàn thế giới trừ Nam Mỹ, Tây Bắc Mỹ, Madagasca và châu Úc. Chúng sống được trong các thủy vực nước ngọt.
Ở Việt Nam cá chép phân bố rộng trong sông ngòi, ao, hồ ruộng ở hầu hết các tỉnh, thành phố phía Bắc của nước ta. Giới hạn tự nhiên của cá này về phía Nam là sông Ba Nam Trung Bộ (Nguyễn Hữu Thọ, Đỗ Đoàn Điệp, 2004). Hiện nay do việc di chuyển và thuần hóa nên chúng phát tán nhiều nơi ở các vực nước tự nhiên trong miền Nam. Cá có nhiều dạng như: cá chép trắng, chép vảy, chép hồng, chép đỏ, chép lưng gù, chép thân cao, chép Bắc Kạn … nhưng loại nuôi phổ biến là chép vảy, hay còn gọi là chép trắng.
Từ năm 1972 đến nay, nước ta đã nhập thêm các loại cá chép kính, chép trần, chép vảy từ các nước Hungari, Indonesia, Pháp cho lai tạo với cá chép Việt (Nguyễn Duy Khoát, 2005).4 Đặc điểm dinh dƣỡng và tập tính sống của cá chép Cá chép sống ở đáy ở các thủy vực nước ngọt, nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn đáy và cỏ nước; rất hiếm khi cá chép bơi lên tầng mặt. Cá chép ăn tạp, thiên về ăn động vật không xương sống ở đáy. Thức ăn của cá khá đa dạng như mảnh vụn thực vật, rễ cây, các loài giáp xác (Copeporda, Decaporda, Gatstropoda), ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm. Tùy theo kích cỡ cá và mùa vụ dinh dưỡng mà thành phần thức ăn có sự thay đổi nhất định.
Ngoài thức ăn tự nhiên trong thủy vực thì cá còn sử dụng tốt các thức ăn bổ sung như 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phụ phẩm nông nghiệp và thức ăn công nghiệp như: khô dầu, cám gạo, mì, bột ngũ cốc, nhộng tằm, bột đậu nành.5 Đặc điểm sinh trƣởng Cá chép là loài có kích cỡ trung bình, lớn nhất có thể đạt tới 15 - 20 kg. Tốc độ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng dần theo khối lượng (Mai Đình Yên, 1983); cá chép lớn nhanh về chiều dài năm thứ nhất và năm thứ hai nhưng trọng lượng tăng nhanh nhất vào năm thứ ba và thứ tư. Tốc độ tăng trưởng của cá chép phụ thuộc vào rất nhiều mật độ và khả năng cung cấp thức ăn. Thông thường cá cái lớn nhanh hơn cá đực.
Cá có thể sống được trong điều kiện khó khăn khắc nghiệt, chịu đựng được nhiệt độ từ 0-400C, thích hợp ở 20-270C. Cá chịu đựng hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu trong nước là 2mg/l, pH khoảng 4 – 9. Là loại cá sống trong vùng nước ngọt, tuy nhiên chúng có thể sống trong nước lợ có độ mặn dưới 1,2%. Loài cá chép nuôi phổ biến hiện nay là cá chọn giống VI, chúng có tốc độ tăng trưởng cao gấp 1,5 -3,0 lần so với cá chép trắng Việt Nam thuần với cùng điều kiện nuôi (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001).
Tương quan chiều dài và tuổi cá được thể hiện trong bảng 2. Tƣơng quan chiều dài và tuổi của cá Chép tại hạ lƣu sông Hồng Tuổi cá (năm) Chiều dài (cm) 1 17,3 2 20,6 3 30,2 4 35,4 5 41,5 6 47,5 Nguồn Mai Đình Yên, 1983 2.6 Đặc điểm sinh sản của cá chép Sinh sản của cá chép rất khác so với cá mè, cá trôi, cá trắm. Nó có thể tự đẻ trứng trong ao, hồ, sông. Ở các vĩ độ khác nhau tuổi thành thục của cá cũng khác nhau; ở những vùng vĩ độ thấp cá thường thành thục sớm hơn.
Nhiệt độ thuận lợi cho cá đẻ trứng từ 18-220C và tối thiểu 14-180C. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.